Học tiếng Anh qua bài phát biểu của Tổng thống Obama

Standard
Thứ tư, 25/5/2016 | 17:55 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebookChia sẻ bài viết lên twitterChia sẻ bài viết lên google+|
Trưa 24/5, Tổng thống Mỹ Obama có bài phát biểu 30 phút trước 2.000 trí thức và doanh nhân Việt Nam. Ông đã trích dẫn nhiều câu văn, thơ nổi tiếng của Lý Thường Kiệt, Nguyễn Du, Văn Cao…

Read the rest of this entry

“Vua con” và sự cố tình… bất lực?

Standard

Ấn tượng trong tuần:

“Vua con” và sự cố tình… bất lực?

Ở tầm vĩ mô, kiểm soát quyền lực còn bất cập, non yếu. Ở tầm vi mô, quyền lực lại cố tình “bất lực”, chỉ vì những lực đẩy của lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm. Nội lực nước Việt, trong trang sử hiện tại này- sẽ được viết ra sao———————————

Những ngày qua, dư luận XH, các cơ quan báo chí truyền thông tập trung bàn luận ồn ào vụ chương trình “60 phút mở” của VTV, để rồi nhanh chóng thành 60 phút… đóng, mà có phần ít bàn luận về một sự kiện, người viết cho rằng rất đáng chú ý. Đáng chú ý vì những lời nói thẳng, nói thật của người lãnh đạo cao nhất của Đảng tại Hội nghị Dân vận toàn quốc mới đây, tổ chức ngày 27/5. Hay bởi từ lâu, họ đã có quá nhiều niềm đau?

“Những ông vua con”?

Đó là những lời gan ruột, đau xót và đắng lòng của Tổng Bí thư Đảng, khi ông thẳng thắn thừa nhận trong lĩnh vực dân vận, không ít cán bộ cửa quyền, hách dịch, ăn chặn, vòi vĩnh, giữ tác phong quan cách như “ông vua con”. Hiện tượng cán bộ thoái hóa, biến chất ngày càng nghiêm trọng. Không ít đảng viên vào Đảng là để mưu cầu danh lợi…

Có thể nói, đó là những dấu hiệu nguy hiểm cho một tổ chức chính trị nói riêng, một nền quản trị quốc gia nói chung.

Bởi ông cũng quá hiểu trong quá khứ, lịch sử đầy biến thiên của các vương triều phong kiến cổ đại, cận đại đã cho thấy sự hưng thịnh, hay suy vong của các vương triều đều gắn liền với chữ vì dân, gần dân hay ngược lại, không vì dân, xa dân. Khi ông dẫn chứng, ngay từ thế kỷ XV, Nguyễn Trãi, nhà chính trị, nhà quân sự, nhà ngoại giao, nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc…, đã tổng kết “như thần”:

Vận nước thịnh hay suy, mất hay còn là do sức mạnh của dân quyết định. Vương triều nào được lòng dân, cố kết được nhân tâm thì làm nên nghiệp lớn; trái lại, vương triều nào đi ngược lại lòng dân thì sớm muộn đều sẽ bị thất bại.

Vua con, Ấn tương trong tuần, Kỳ Duyên, nhà báo Kim Dung, hội nghị dân vận, cát tặc
“Thuyền bị lật mới biết sức dân mạnh như sức nước”, Nguyễn Trãi. Ành: Hanoimoi

Còn ở triều Hậu Trần, sự suy vong do vua quan Hậu Trần không thực hiện đúng chính sách “thân dân”, “làm kế sâu rễ bền gốc”; chỉ lo cuộc sống xa hoa, quyền lợi ích kỷ của mình, bỏ “mặc dân khốn khổ”, “muôn dân oán giận mà không biết, lòng người oán trách mà chẳng kinh”. Ở thời nhà Hồ, Hồ Quý Ly bị thất bại nhanh chóng, cơ đồ tan vỡ, nước mất vào tay giặc cũng chỉ vì chính quyền nhà Hồ quá xa rời nhân dân, vì “chính sự phiền hà, để đến nỗi lòng dân oán giận”.

Và ông nhắc lại bài học sâu sắc mà Nguyễn Trãi đã khẳng định, cũng là để nhắc nhở những “công bộc” hôm nay- thuyền bị lật mới biết sức dân mạnh như sức nước.

Nhưng cũng không chỉ có quá khứ mới có những điều “để đến nỗi lòng dân oán giận”. Người lãnh đạo cao nhất của Đảng thẳng thắn và lo âu thừa nhận hiện tại, đối với một đảng cầm quyền, một trong những nguy cơ lớn nhất và đáng sợ nhất là tự cắt đứt liên hệ với quần chúng.

Khi mà một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là những người có chức có quyền, có những biểu hiện sa sút phẩm chất, sống xa dân, vô trách nhiệm với dân, giữ tác phong quan liêu, gia trưởng, độc đoán, thậm chí trù dập, ức hiếp quần chúng. Một số hiện tượng tham nhũng, đặc quyền đặc lợi trong Đảng và trong các cơ quan nhà nước không được đấu tranh kiên quyết và xử lý nghiêm minh (Dân trí, ngày 27/5).

Thật ra, trong quá khứ không xa, năm 1945, ngay khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có tầm nhìn xa trông rộng, đã dự báo:

Tham ô, lãng phí, quan liêu là ”giặc nội xâm”, là kẻ thù của nhân dân, gây lên những hậu quả khôn lường cả về mặt kinh tế, chính trị và xã hội…’Những người lãnh đạo chỉ biết khai hội, viết chỉ thị, xin báo cáo trên giấy chứ không kiểm tra đến nơi đến chốn vì những người và cơ quan lãnh đạo mắc bệnh quan liêu, thành thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng. Muốn trừ sạch tham ô, lãng phí thì phải tẩy sạch bệnh quan liêu” (Báo điện tử ĐCSVN, ngày 07/10/2015).

71 năm qua, đất nước đã độc lập, tự do, trong đó có 30 năm nước Việt đổi mới, vận hành để hội nhập hiện đại hướng tới những giá trị văn minh. Cho dù có những thành quả, những kết quả, từ nước nghèo nàn lạc hậu, sang một quốc gia có thu nhập trung bình, vậy nhưng vì sao, những bài học đau xót về sự quan liêu, tham nhũng xa xưa mà người đứng đầu đất nước thuở hàn vi dự báo vẫn cứ còn nguyên giá trị, vẫn cứ nóng hổi tính thời sự?

Hơn thế nữa, tính chất tha hóa, suy thoái của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong nền kinh tế thị trường còn có chiều hướng trầm trọng, khi Tổng Bí thư đã phải thẳng thắn nhìn nhận? Vì sao, sự “suy thoái” đó không … suy, cho dù qua nhiều phong trào chấn chỉnh đạo đức, phẩm cách cán bộ, đảng viên?

Nguyên nhân của những suy thoái đó là ở đâu, nếu không phải là ở nền quản trị QG của VN còn khiếm khuyết, thiếu công khai minh bạch đã đành, trong khi pháp luật lại “duy tình”, “cầm tay chỉ việc”, mà quan trọng hơn, nền quản trị QG đó đang rất thiếu sự kiểm soát quyền lực. Chính sự thiếu kiểm soát quyền lực dẫn đến rất nhiều hệ lụy mà XH đang phải đối mặt

Khiến cho “những ông vua” cứ dọc ngang trời đất trên đầu có ai?

Người viết bỗng nhớ đến câu chuyện so sánh hai thể chế- Đức quốc xã những năm 30, đã suy vi không tránh khỏi chỉ vì đời sống dân chủ của con người bị tước đoạt không thương tiếc; và nước Mỹ non trẻ của những năm 1787, hơn 200 năm trước đây, có những người con ưu tú nhất của thời điểm đó đã  tranh luận gay gắt, căng thẳng suốt mấy tháng trời chỉ để ra được cơ chế kiểm soát quyền lực.

Sự hưng vong của hai thể chế như hai tấm gương phản chiếu sức mạnh của kiểm soát quyền lực, hoặc ngược lại, sức mạnh của độc tài tàn bạo.

Nhân gian nói cấm có sai: Gieo nhân nào- gặt quả nấy.

Đồng tiền “của người phúc ta”

Vua con, Ấn tương trong tuần, Kỳ Duyên, nhà báo Kim Dung, hội nghị dân vận, cát tặc

Kiểm toán Nhà nước vừa có báo cáo gửi TTCP về kết quả kiểm toán chuyên đề phát hành, quản lý và sử dụng vốn trái phiếu CP năm 2014. Ảnh: vneconomy

Phải nói thẳng, niềm tin người dân nước Việt những năm tháng này bị tổn thương rất nặng. Có một đặc điểm tâm lý rất khác biệt, giặc ngoại xâm khiến cộng đồng người Việt cấu kết, đoàn kết, nhưng “giặc nội xâm” lại khiến lòng người… phân ly bởi sự hoài nghi và mất mát chữ “tín”.

Cũng vì thế, tại hội nghị dân vận, vị lãnh đạo cao nhất của Đảng đã phải lưu í có 03 vấn đề cần quan tâm, mà xem ra, vấn đề nào không quan trọng: Chăm lo đời sống, hạnh phúc nhân dân; tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; và kiên quyết làm trong sạch đội ngũ, khắc phục hiện tượng tha hóa lối sống của cán bộ, đảng viên.

Nhưng đời sống, hạnh phúc của nhân dân sẽ cao thế nào nếu như trách nhiệm quản lý, năng lực quản lý của bộ máy “công bộc” của dân trước đồng tiền tỷ- cũng là tiền thuế của dân, quá… thấp?

Dưới đầu đề “Sai phạm gần nghìn tỷ: Tiền đi vay, tiêu vung tay”, báo VietNamNet, ngày 27/5 cho biết, Kiểm toán Nhà nước vừa có báo cáo gửi TTCP về kết quả kiểm toán chuyên đề phát hành, quản lý và sử dụng vốn trái phiếu CP năm 2014. Kết quả kiểm toán đã chỉ ra hàng loạt những sai phạm, những lãng phí, đội vốn đầu tư khó hiểu.

Sự sai phạm thật… trăm hoa đua nở.

Tỷ như dự án đã hoàn thành và không có nhu cầu vốn nhưng vẫn nằm trong danh sách nhận vốn trái phiếu CP, dẫn đến hệ lụy không thể nào giải ngân được. Thậm chí, dự án đã được bố trí đủ vốn vẫn tiếp tục được “rót” thêm, hệt như kẻ tham ăn, no bụng đói con mắt.

Tỷ như dù là trái phiếu CP nhưng nhiều dự án “vung tay” chi tiền hơn cả tổng mức đầu tư được duyệt, theo kiểu bóc ngắn cắn dài.

Tỷ như nhiều địa phương khi báo cáo để xin vốn trái phiếu CP, lại thường… đãng trí, quên không nhắc gì tới số vốn trái phiếu CP đã phân bổ hàng năm.

Tỷ như nhiều địa phương lại lấy vốn trái phiếu CP thanh toán cho những dự án không được phép sử dụng vốn vay này, lộn sòng của người phúc ta.

Rút cục, số tiền chi sai phạm không hề nhỏ, hơn 800 tỷ đồng.

Và đứng đầu các bộ, ngành, địa phương xảy ra vi phạm nhiều nhất trong việc sử dụng vốn trái phiếu CP, phải kể đến: Bộ Quốc phòng (gần 117 tỷ đồng), Kiên Giang (hơn 100 tỷ), Điện Biên (56 tỷ đồng), Bộ Giao thông vận tải (47 tỷ đồng), Hậu Giang (41 tỷ đồng)…

Cũng bài báo này cho biết, kết quả kiểm toán cho thấy nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn trái phiếu CP khá lớn, tới hơn 5000 tỷ đồng, mới ở 40/60 bộ, ngành, địa phương được kiểm toán (tính đến 31/1/2015).

“Cơ sở thực tiễn” của sự sai phạm và cố tình sai phạm trong việc sử dụng trái phiếu CP này là gì, nếu không phải là tâm lý tiền chùa?

Thứ tiền chùa mà không phải tiền chùa, mà vẫn là tiền chùa!

Cùng với vô vàn hiện tượng, vụ việc “tham nhũng ổn định” khác, làm sao niềm tin của người dân không… thất thoát?

Cố tình “bất lực”?

Bất lực là một khái niệm ám chỉ sự yếu kém, non kém. Về tâm lý, hẳn chả người nào cho đến bộ máy chính quyền nào muốn nhận được hai chữ đáng hổ thẹn đó.

Thế nhưng người viết tin rằng, trong cái thời buổi kim tiền này, có những nơi chính quyền cơ sở cố tình… “bất lực”. Vì sao?

Xin hãy đọc báo GDVN, ngày 31/5, với đầu đề: Chính quyền “bất lực” để doanh nghiệp hútcát, nguy cơ sạt lở đôi bờ sông Hồng. Chính quyền ở đây là một loạt các phường Chương Dương (Hoàn Kiếm), Bồ Đề, Long Biên (Long Biên) thuộc Thủ đô HN, nơi có con sông Hồng lụa là chạy qua.

Nhưng những gì đang diễn ra ở đó chẳng hề lụa là. Mà rất ‘giang hồ”.

Bởi theo bài báo, tình trạng khai thác, tận thu khoáng sản (cát) trên sông Hồng tràn lan, hết sức phức tạp, nhân danh thực hiện dự án nạo vét luồng đường thủy nội địa quốc gia của Công ty Cổ phần Đầu tư khai thác và Phát triển khoáng sản Sông Hồng (Cty khoáng sản Sông Hồng). Kinh phí thực hiện bằng nguồn vốn huy động của DN, không sử dụng vốn ngân sách nhà nước. Có lẽ, chính vì không sử dụng vốn của nhà nước, nên sự tận thu sản phẩm của DN này rất… tận thu.

Từ lâu, ai cũng biết, hạt cát tuy rất bé nhỏ nhưng là mối lợi lớn béo bở với không ít các DN. Nên nhớ, ngay cả dự án sông Hồng cách đây ít lâu bị TTCP bác bỏ cũng đã được các nhà khoa học chỉ ra, trong dự án đó có một mối lợi “ngầm”cực kỳ lớn là độc quyền khai thác cát sông Hồng.

Sự tận thu dã man và bất chấp đến nỗi, xuất hiện một số điểm sạt lở bờ sông. Thậm chí có những đoạn sạt lở nghiêm trọng cuốn trôi cả cây cối hoa màu của người dân.

Cũng theo báo GDVN, theo quy định, chỉ được phép có 03 tàu nạo vét, nhưng thực tế thường xuyên có có tới 10 tàu (01 tàu cuốc, 09 tàu hút cát) hoạt động hết công suất, mã lực, như chưa có bao giờ đẹp như hôm nay.

Thật ra, hiện tượng khai thác cát ngang nhiên vi phạm luật đến mức độ lâu nay được người dân khái quát bằng hai từ “cát tặc” là hiện tượng nhức nhối diễn ra ở bất cứ địa phương nào có sông nước chảy qua. Quảng Bình, Hưng Yên… nay là Hà Nội. Trước đó, tháng 04, người dân các xã Phương Độ, Vân Nam, Vân Hà (Phúc Thọ- Hà Nội) đã rất bức xúc trước hiện tượng “cát tặc” lộng hành ở địa phương họ.

Tuy nhiên khác với nỗi bức xúc của người dân, c/q các xã như ở Phương Độ, ông chủ tịch xã hoàn toàn phủ nhận không thấy gì. Chả lẽ cùng một hiện tượng, mắt người dân thấy rõ mồn một, mà mắt ông chủ tịch xã Phương Độ lại… kém đến thế? Còn ông Chủ tịch UBND xã Vân Hà thừa nhận, đã nhiều lần cơ quan chức năng huyện về phối hợp với địa phương vây bắt nhưng thực trạng vẫn không hề giảm. Báo GDVN đã đặt câu hỏi to tướng: Ai đang bảo kê cho tình trạng “cát tặc” lộng hành tại Phúc Thọ, Hà Nội? (ngày 20/4)

Xin đừng cho rằng c/q địa phương các cơ sở buông lỏng quản lý. Trái lại. Họ nắm rất chặt, nhưng là nắm rất chặt không cho chúng nó thoát những địa thế, những khu vực sinh lợi. Chỉ có điều, họ buông lỏng trách nhiệm và lương tâm theo những con tàu… hút cát ngoài sông thôi.

Còn trong vụ việc ở các phường Chương Dương, Bồ Đề, Long Biên mới đây, hãy nghe ông Hoàng Hồng Giang (Cục trưởng Cục đường thủy nội địa VN- Bộ Giao thông Vận tải) chỉ ra cái “lỗ hổng” ở cơ sở nó hổng ra sao:

Dự án thực hiện việc nạo vét đường thủy nội địa rất ít. Còn tại địa phương các địa phương cấp quyền khai thác mỏ với số lượng lớn. Số lượng mỏ do địa phương cấp chính là “lỗ hổng” cho một số đối tượng thực hiện khai thác cát trái phép và khi cấp như vậy, việc chồng chéo lên nhau là không tránh khỏi, thậm chí có địa phương lại cấp chồng lên những vị trí mà dự án nạo vét luồng đường thủy nội địa đang thực hiện mà không hề báo cáo lên cục.

Như vậy c/q cơ sở bất lực hay cố tình “bất lực” khi để cho tình trạng “cát tặc” hoành hành? Chắc chắn, chỉ có họ mới hiểu.

Ở tầm vĩ mô, kiểm soát quyền lực còn bất cập, non yếu. Ở tầm vi mô, quyền lực lại cố tình “bất lực”, chỉ vì những lực đẩy của lợi ích cá nhân, lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm. Nội lực nước Việt, trong trang sử hiện tại này- sẽ được viết ra sao?

Kỳ Duyên

Read the rest of this entry

10 điều khiến giáo dục Việt Nam tụt hậu

Standard
“Phụ huynh xem bằng cấp của con như trang sức, học sinh đối phó, sinh viên sư phạm không yêu nghề, cán bộ quản lý không đúng năng lực…”, cô giáo Tô Thụy Diễm Quyên chỉ ra nguyên nhân đang kéo lùi sự phát triển của giáo dục Việt Nam.

Vẫn còn nhiều lý do nhưng 10 lý do này là những điều có thể khắc phục được, cần có tiếng nói chung và sự hợp tác của cả những người trong cuộc lẫn phụ huynh.

1. Giáo viên không thích học tập và phát triển chuyên môn vì lương không tăng theo trình độ và năng lực mà tăng theo thâm niên. Cơ chế đánh đồng năng lực khiến người giỏi mất dần nhu cầu phát triển.

2. Giáo viên giỏi nhưng lương không đủ sống nên phải ra ngoài kiếm ăn. Vì thế không còn sức để học tập và đầu tư cho phát triển chuyên môn, ngoại trừ việc sưu tầm đề thi để đi dạy thêm. Trong lớp thì dạy qua loa vì có tâm sức đâu mà đầu tư, có đầu tư cũng vẫn bị đánh đồng với người không đầu tư.

10-dieu-khien-giao-duc-viet-nam-tut-hau

GIáo viên Tô Thụy Diễm Quyên.

3. Các chương trình bồi dưỡng thường xuyên không phù hợp giáo dục hiện đại và cách tiếp cận lỗi thời nên kém tác dụng. 99% giáo viên phát triển năng lực bằng kênh duy nhất đó là đi tập huấn và bồi dưỡng thường xuyên. Giáo viên gọi đó là “đi chép phạt”.

4. Quá nhiều cán bộ quản lý không đủ năng lực, không trọng dụng đúng người đúng việc, không chú trọng phát triển đội ngũ, không biết nhìn nhận, không chấp nhận sự phản biện và vì thế khó phát triển.

5. Nhiều người không yêu nghề nhưng vẫn vào nghề giáo vì không thể thi vào đâu khác. Sinh viên giỏi hiếm khi vào sư phạm, đầu vào của nghề giáo lẽ ra phải tinh hoa nhất thì lại không hút được người tài do nghề không hứa hẹn. Họ thiếu chữ Tâm lẫn năng lực sư phạm nên đã làm hỏng hình ảnh người thầy dẫn đến mất lòng tin của xã hội.

6. Phụ huynh xem việc học và bằng cấp của con như trang sức của mình nên ép con học ngày học đêm để hơn con người khác. Họ không biết con mình thuộc trí thông minh dạng nào, năng lực tốt nhất là gì, mục tiêu ra sao mà chỉ cần điểm số do đó không quan tâm chất lượng giáo dục thực sự mà chỉ quan tâm bằng cấp và giấy khen.

7. Những người giỏi không chịu nổi cách làm việc áp đặt và quan liêu của đại đa số cán bộ quản lý nên giáo dục không hút được nhân tài.

8. Học sinh không được dạy cách học tập chủ động mà chỉ học đối phó. Học sinh không xác định được mục đích việc học mà chỉ học để thực hiện mong muốn của bố mẹ và bố mẹ nào cũng mong con mình là bác sĩ, kỹ sư. Thực lực những người trẻ thiếu kỹ năng, dư bằng cấp là một biểu hiện lệch lạc của giáo dục, không chỉ là lỗi của giáo dục mà còn là lỗi của cả phụ huynh.

9. Chương trình giảng dạy thiếu khoa học. Không dễ gì mà giáo viên được phép sáng tạo bởi sự quy chụp của những người đi thanh tra thường dùng chiếc mũ “sai quy chế” hoặc “sách giáo khoa là pháp lệnh”. Sách giáo khoa của Việt Nam nặng về lý thuyết và kém về ứng dụng.

10. Nhiều cuộc thi không thực tế mà chỉ như sân khấu và tất cả cùng diễn để lấy thành tích. Cách đánh giá giáo viên giỏi không dựa vào kết quả sản phẩm giáo dục là học sinh mà chỉ dựa vào những gì giáo viên “diễn” trong một tiết dạy đã chuẩn bị công phu. Cách đánh giá học sinh cũng chỉ đánh giá được khả năng ghi nhớ thông tin, tức là bậc thấp nhất của nhận thức và tư duy. Những phương pháp rèn luyện và đánh giá được kỹ năng thì chưa có thang điểm chính thức, do đó bị xem nhẹ.

Giáo viên Tô Thụy Diễm Quyên, TP HCM

Read the rest of this entry

Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Antony Blinken bài phát biểu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Standard

Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Antony Blinken bài phát biểu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Xin chào!

Chào các bạn. Cám ơn Hiệu trưởng Minh đã có lời giới thiệu nồng ấm. Và trân trọng cảm ơn tất cả các bạn đã nhiệt tình hiếu khách và đón chào hết sức nồng nhiệt. Cá nhân tôi, Ngài Đại sứ Osius và tất cả các thành viên trong phái đoàn từ Hoa Kỳ rất xúc động. Chúng tôi thật vinh dự được tới thăm Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, nơi đã đào tạo và bồi dưỡng biết bao thế hệ các nhà lãnh đạo của Việt Nam. Tôi dám chắc rằng trong hội trường này ngày hôm nay sẽ có những vị Bộ trưởng, những vị Đại sứ tương lai của Việt Nam và có thể có cả những doanh nhân và nghệ sỹ nữa.

Tôi cũng muốn cảm ơn người bạn thân của tôi, Ngài Đại sứ Ted Osius, người có thể đã lập kỷ lục về việc đi bộ, đi xe đạp, leo núi và trekking để gặp gỡ càng nhiều người càng tốt ở đất nước tươi đẹp, năng động và giàu sức sống này. Thực ra Đại sứ Ted và tôi đã quen nhau từ hồi chúng tôi cùng học đại học ở Hoa Kỳ – nhưng tôi sẽ không tiết lộ là đã biết nhau được bao nhiêu năm rồi. Cả hai chúng tôi lần đầu tiên gặp nhau trên giảng đường đại học, và có lẽ đây cũng là lời nhắc nhở với tất cả các bạn ở đây, rằng tình bạn mà chúng ta gây dựng ở giảng đường như thế này sẽ đi theo chúng ta suốt cả cuộc đời.

Đây là lần thứ hai tôi đến Việt Nam và là lần thứ sáu tới khu vực này trong vòng hơn một năm. Tôi rất, rất vui khi được quay trở lại. Thực ra tôi dành cả buổi sáng hôm nay để gặp gỡ các bạn trẻ, một niềm vui thực sự mà các bạn sẽ có thể cảm nhận được khi mà mái tóc của các bạn bắt đầu điểm bạc như tôi bây giờ – hoặc như vợ tôi vẫn thường nói, tóc bạc nhiều như của tôi. Trước khi đến đây, tôi đã ngồi cùng với một số người đổi mới sáng tạo và doanh nhân trẻ trong dự án Silicon Valley Việt Nam. Không gì có thể thể hiện được tiềm năng vô hạn trong tương lai bằng không gian mở cho những người đổi mới sáng tạo cùng hợp tác với nhau để cho ra đời Google tiếp theo, Facebook tiếp theo, hay FPT tiếp theo.

Khi thảo luận, chúng tôi đã nói về những ý tưởng của họ, những mạo hiểm và thậm chí cả những thất bại của họ. Phải thú thực với các bạn, nếu tôi nhắm mắt lại và tưởng tượng thì những bạn trẻ mà tôi gặp sáng nay cũng giống như những người anh chị em của họ ở Silicon Valley, California – cũng tràn đầy năng lượng như thế, nhiệt huyết như thế, tài năng như thế, tò mò như thế, và đôi khi cũng cảm thấy bực bội như thế với chính phủ vì ì ạch hơn bước tiến của họ, những thứ mà chúng tôi thấy quen thuộc ở Hoa Kỳ.

Mới cách đây ít lâu, tôi đã đến thăm trụ sở chính của Facebook ở Silicon Valley, Hoa Kỳ, và tôi nghĩ khi bước vào cửa tôi có thể đã nâng độ tuổi trung bình thêm vài chục năm. Có ai đó đã nhắc tôi tháo cà vạt – tôi là người duy nhất đeo cà vạt. Ai cũng có nhiều thiết bị hơn đôi bàn tay của họ. Một thanh niên trẻ vụt lướt qua trên ván trượt hai bánh. Cậu ấy gần như bay trên sàn nhà. Do vậy tất cả các bạn đều hoàn toàn có thể phù hợp ở Facebook tại Silicon Valley.

Thế hệ các bạn ở Việt Nam nằm trong số những người năng động nhất trên thế giới – khao khát có cơ hội, tràn đầy những ý tưởng đột phá. Các bạn cũng là công dân của một trong những quốc gia trẻ nhất trên thế giới. Độ tuổi trung bình ở đây là 29, và có khoảng 40 triệu người đang ở độ tuổi 25 hoặc trẻ hơn. Các bạn đang trưởng thành trong một thế giới mà ở đó các bạn nhìn nhận mọi việc không phải như chúng đã hoặc thậm chí đang diễn ra, mà chúng còn có thể sẽ diễn ra như thế nào.

Tương lai nằm trong tay các bạn, để tạo dựng và tái tạo nó.

Đây là điều mà cả hai nước chúng ta đã trải qua ít nhiều.

Năm ngoái, chúng ta kỷ niệm 20 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hoa Kỳ. Mùa hè năm ngoái, Tổng thống Obama đã tiếp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong chuyến thăm đầu tiên của một vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam tới thủ đô của chúng tôi.

Trong cuộc hội đàm, cả hai nhà lãnh đạo đã thừa nhận lịch sử đầy khó khăn giữa hai nước và những khác biệt còn tồn tại về triết lý chính trị, thể chế và các nguyên tắc. Song, nhờ các nhà lãnh đạo của cả hai đảng ở Hoa Kỳ – như Tổng thống Bill Clinton, Ngoại trưởng John Kerry và Thượng nghị sỹ John McCain – và các nhà lãnh đạo ở Việt Nam, chúng ta đang vun đắp cho mối quan hệ mang tính xây dựng dựa trên sự tôn trọng, tin tưởng lẫn nhau, và những khát vọng chung của cả hai dân tộc.

Hiện nay, Hoa Kỳ và Việt Nam đang làm sâu sắc thêm và mở rộng mối quan hệ trong những lĩnh vực mà chỉ cách đây vài năm thậm chí ngay cả chúng tôi cũng không thể tưởng tượng nổi, thậm chí không thể đề cập tới – nói gì đến cùng làm việc. An ninh khu vực. Hợp tác quân sự. Thương mại và kinh tế. Nhân quyền. Giáo dục. Biến đổi khí hậu. Y tế toàn cầu. An ninh năng lượng. Ứng phó thiên tai. Gìn giữ hòa bình. Mối quan hệ đối tác của chúng ta trong tất cả các lĩnh vực này đang lớn mạnh từng ngày.

Gia tăng tốc độ, mức độ và phạm vi hợp tác không phải là quên đi lịch sử.

Điều đó có nghĩa là học hỏi từ lịch sử.

Khi Tổng thống Obama nhậm chức cách đây bảy năm, ông đã nêu rõ rằng ông không để xung đột và thù nghịch trong quá khứ chi phối tương lai của chúng ta. Ông đã tin, và ông vẫn tin rằng, không có hai quốc gia nào định mệnh là thù nghịch của nhau. Và ngoại giao có mục đích và nguyên tắc của chúng ta đã có thể khai thông những kênh hợp tác mới.
Đó chính là những gì đã diễn ra.

Khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến thăm Nhà Trắng vào tháng Bảy, ông đã nói với Tổng thống Obama, và tôi xin trích nguyên văn, “Quá khứ thì không thể thay đổi, nhưng tương lai lại tùy thuộc vào hành động của chúng ta, và chúng ta phải có trách nhiệm đảm bảo một tương lai sáng lạn.”

Chính tương lai đó – thực ra, là trách nhiệm đó – là cái mà tôi muốn trao đổi với các bạn ngày hôm nay.

Sáng nay tại Silicon Valley Việt Nam, tôi đã lý giải tại sao một ai đó như tôi, trong ngành ngoại giao, lại quan tâm gặp gỡ các bạn trẻ, những doanh nhân, những người đổi mới sáng tạo, sinh viên – và tại sao tôi lại khao khát đến vậy để hiểu rõ hơn chúng tôi có thể làm gì nhằm hỗ trợ cho họ, hỗ trợ cho tất cả các bạn.

Lý do đầu tiên thực ra tương đối đơn giản. Chúng tôi cần sự hỗ trợ của các bạn. Những thách thức chúng ta phải đối mặt trên thế giới hiện nay vượt xa khả năng của bất kỳ chính phủ nào – chứ chưa nói đến duy nhất một chính phủ nào – có thể tự giải quyết.

Thế giới mà chúng ta đang sống ngày càng có nhiều thay đổi và phức tạp hơn nhiều so với trước đây – khi mà sự tùy thuộc lẫn nhau ngày càng chặt chẽ trong nền kinh tế toàn cầu và tốc độ thay đổi nhanh chóng gắn kết con người, các tổ chức và các chính phủ theo những cách chưa từng có tiền lệ, thúc đẩy những hình thức hợp tác mới nhưng cũng tạo ra những thách thức chung.

Đó là một thế giới mà ở đó bệnh dịch lan truyền nhanh chóng qua biên giới và các hacker dễ dàng vượt tường lửa; những kẻ cực đoan gây ra những vết thương hằn sâu ở các cộng đồng và biến đổi khí hậu tàn phá hành tinh của chúng ta; nhiều người di cư và tị nạn chưa từng có đang liều mạng mỗi ngày trên đại dương từ biển Andaman tới Địa Trung Hải để tìm cơ hội kinh tế hay nơi trú ẩn khỏi chiến tranh hay ngược đãi.

Những thách thức toàn cầu này đòi hỏi phải có những giải pháp mới trên cơ sở những công cụ, chuyên môn và trí tuệ của những chủ thể nằm ngoài chính phủ – trong khu vực tư nhân, xã hội dân sự, các cộng đồng tín ngưỡng, và các trường đại học.

Nếu chúng ta muốn vượt qua những thách thức to lớn trong thời đại của mình – những thách thức do nước biển dâng và nhiệt độ tăng lên, các cuộc xung đột kéo dài và nghèo đói triền miên, những kẻ cực đoan và khủng bố trên mạng gây ra – nếu chúng ta muốn vượt qua những thách thức này thì chúng ta cần phải có niềm đam mê và tài năng của thế hệ các bạn – thế hệ đổi mới sáng tạo.

Các bạn thuộc về thế hệ mà gien của mình đã có sẵn bản năng khám phá thế giới, gây dựng những mối quan hệ mới giữa các nền văn hóa và giữa các quốc gia.

Các bạn thuộc về một cộng đồng toàn cầu của những người có tầm nhìn, những người đã dám tưởng tượng rằng sức mạnh của một vệ tinh có thể được nắm gọn trong lòng bàn tay. Hay khả năng của một hệ thống truyền thông có thể kết nối hàng tỷ người khắp nơi trên thế giới theo thời gian thực.

Đó là một di sản to lớn, nhưng không phải là một di sản nghiễm nhiên có được. Những nơi như Silicon Valley không phải từ trên trời rơi xuống. Khả năng đổi mới sáng tạo không phải là thiên bẩm. Khả năng đó phải học mới có.

Các bạn cần phải có những thành tố cần thiết để tạo ra một môi trường mà ở đó các ý tưởng có thể được thắp sáng trên cơ sở cạnh tranh, nguồn vốn dễ dàng có thể tiếp cận, và những doanh nhân khởi nghiệp có thể chấp nhận rủi ro mà không sợ mất đi tất cả những gì họ có.

Hỗ trợ cho những người lập trình các ứng dụng đang nổi lên, khởi xướng những vườn ươm doanh nghiệp, mở ra những không gian sáng chế mới là quan trọng nhưng vẫn chưa đủ đối với Việt Nam – hay với bất kỳ quốc gia nào khác – để có thể phát huy tối đa lợi ích của đổi mới sáng tạo.

Đó là lý do khác mà tôi đã dành ưu tiên cho các doanh nhân trẻ ở đây và thực ra ở bất kỳ nơi nào tôi đến thăm. Những nguyên tắc để có thể có được hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, những thành tố cần thiết để hệ sinh thái đó phát triển, là những gì mà tất cả các quốc gia và tất cả mọi công dân đều cùng chung lợi ích khi gây dựng và phát huy.
Một nền giáo dục dựa trên nền tảng tư duy phản biện và được khơi nguồn cảm hứng nhờ việc tự do trao đổi ý tưởng.

Một hệ thống kinh tế và thương mại dựa trên luật lệ, trên nền tảng minh bạch và cạnh tranh.

Tôn trọng quyền, quyền tự do, và nhân phẩm của tất cả mọi người.

Và một xã hội quan tâm đến duy trì hòa bình và ổn định ở khắp nơi trên thế giới.

Chính vì vậy – trong cốt lõi của mối quan hệ đối tác song phương – là một cam kết giúp Việt Nam trở thành một quốc gia đi đầu trên thế giới về công nghệ và đổi mới sáng tạo trong tương lai. Không phải đơn giản chỉ vì điều đó sẽ giúp thế hệ các bạn và các thế hệ sau này có được những kỹ năng cần thiết để thành công trên thương trường toàn cầu mà còn vì những đặc điểm giúp có được đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp cũng chính là những đặc điểm hình thành nên một thế giới mà chúng ta mong muốn được sống ở đó– một thế giới mà tất cả mọi người dân đều có cơ hội theo đuổi những khát vọng của mình và vươn lên trở thành người xuất sắc.

Trước hết và trên hết, điều đó đòi hỏi phải thúc đẩy giáo dục. Nhưng không phải là giáo dục kiểu gì cũng được. Thanh niên phải được phép, thực ra là phải được khuyến khích, lập luận, phản biện và thách thức thế giới xung quanh họ bằng lăng kính mới, một sự hoài nghi lành mạnh, và sẵn sàng tranh luận và quyền tự do được thất bại. Nhiều năm trước đây có một hình vẽ graffiti trên tường nổi tiếng ở Hoa Kỳ. Một ai đó đã vẽ và viết thế này, “Hãy đặt câu hỏi với người có thẩm quyền”, rồi về sau một người khác lại viết lên trên cùng hình vẽ graffiti đó, “Tại sao?” Đây chính là tinh thần mà chúng ta cần có trong các hệ thống giáo dục của mình.

Việt Nam có bề dày di sản coi trọng giáo dục – với tỷ lệ biết đọc biết viết đầy ấn tượng, tỷ lệ đi học tương đối đồng đều giữa trẻ em gái và trẻ em trai, và mạng lưới ngày càng chặt chẽ giữa các trường đại học và các viện nghiên cứu.

Song, như Ngoại trưởng Kerry đã nói khi ông đến Hà Nội vào tháng 8, sinh viên tốt nghiệp hiện nay nếu chỉ biết cần nghĩ cái gì vẫn chưa đủ. Họ cần phải biết nghĩ như thế nào.
Họ cần phải được tiếp cận một hệ thống giáo dục khuyến khích tư duy phản biện, trân quý sáng tạo, đề cao thực nghiệm, và có nhiều cơ hội tài trợ nghiên cứu.
Xa lộ đổi mới sáng tạo dựa vào nền tảng giáo dục đó. Và áp lực của nền kinh tế toàn cầu đòi hỏi phải có hệ thống giáo dục như vậy.

Đó chính là lý do tại sao chúng tôi lại hợp tác chặt chẽ đến vậy để giúp Việt Nam thúc đẩy một hệ thống giáo dục đầu tư vào nguồn vốn con người và nguồn vốn công dân của mình. Chúng tôi hỗ trợ giáo dục mầm non cho trẻ em dân tộc thiểu số ở miền Trung và đẩy mạnh quan hệ đối tác giáo dục đại học để đổi mới giáo dục từ học vẹt, dựa trên lý thuyết sang giảng dạy tích cực, dựa vào thực hành.

Thông qua một sáng kiến mang tên PEER, các nhà nghiên cứu của Việt Nam và Hoa Kỳ đang hợp tác với nhau để tăng cường bảo tồn đa dạng sinh học ở một số hệ sinh thái mong manh, nhạy cảm nhất của Việt Nam.

Và, ngay tại đây, tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, chúng ta đang phối hợp cùng nhau để trang bị cho thế hệ các người hoạt động xã hội mới được đào tạo và có được những kiến thức cần thiết để cung cấp dịch vụ cho những cộng đồng yếu thế trên khắp cả nước.

Chúng tôi rất vui vào cuối năm nay sinh viên Việt Nam sẽ có cơ hội được mở rộng cơ hội giáo dục thậm chí nhiều hơn nữa khi Trường Đại học Fulbright Việt Nam chính thức đi vào hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh. Dựa trên mô hình giáo dục Hoa Kỳ, trường đại học này sẽ chú trọng tới tự do học thuật, khơi nguồn đổi mới sáng tạo, và giúp những thế hệ người Việt Nam mới tận dụng được những cơ hội đang đặt ra trước họ.

Giáo dục không chỉ đơn thuần là những gì các bạn học được ở trên giảng đường. Chúng tôi đã ưu tiên tăng cường các cơ hội cho sinh viên Việt Nam được học tập ở nước ngoài và kết nối với giới trẻ trong khu vực và trên toàn thế giới. Hiện nay, có khoảng 19.000 sinh viên Việt Nam đang học tập tại Hoa Kỳ. Con số đó đã tăng 40% chỉ trong vòng bảy năm. Việt Nam nằm trong tốp 10 quốc gia hàng đầu có sinh viên sang Hoa Kỳ học tập.

Thông qua mạng lưới Sáng kiến Thủ lĩnh trẻ Đông Nam Á (YSEALI), chúng tôi đang cấp học bổng, tổ chức hội thảo, cấp vốn ban đầu cho các dự án cộng đồng để giúp các bạn trẻ biến ý tưởng của mình thành hành động. Kể từ khi Tổng thống Obama khởi động YSEALI cách đây ba năm, đã có hơn 67.000 thanh viên tham gia mạng lưới này, trong đó có khoảng 11.000 thanh niên Việt Nam. Đây là một cộng đồng có quy mô và tác động không chỉ tiếp tục lớn mạnh mà còn tiếp tục có ảnh hưởng, tiếp tục gây ấn tượng.

Thứ hai, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo sẽ nở rộ trong một môi trường chính sách tạo nền tảng cho tăng trưởng toàn diện và bền vững thông qua việc tăng cường minh bạch, pháp quyền, bảo vệ tài sản trí tuệ và những quy định khả đoán, cho phép tất cả mọi doanh nghiệp – dù lớn, dù nhỏ – có thể cạnh tranh một cách bình đẳng.

Quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam từ nền kinh tế nông nghiệp, đóng cửa trở thành một câu chuyện thành công về hội nhập quốc tế giúp hàng triệu người thoát nghèo trong vòng hai thập niên là cả một hành trình đầy ấn tượng.

Nhiệm vụ bây giờ là củng cố những thành quả nêu trên và đảm bảo rằng tất cả mọi người đều được hưởng lợi trên cơ sở tạo lập một môi trường kinh doanh rộng mở, cạnh tranh, khả đoán để mở đường cho khởi nghiệp và các doanh nghiệp phát triển.

Giờ đây, tương lai càng gần sát tầm tay hơn bao giờ hết nhờ Hiệp định Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) của thế kỷ 21.

Là kết quả của hơn năm năm đàm phán của hơn mười quốc gia khu vực Thái Bình Dương, hiệp định quan hệ đối tác mang tính lịch sử này – trong đó Việt Nam là một trong những bên ký kết đầu tiên – sẽ chiếm tới 40% nền kinh tế toàn cầu, trong đó gần một nửa các nước ASEAN là thành viên, trên cơ sở những tiêu chuẩn lao động, môi trường và bảo vệ sở hữu trí tuệ cao nhất trên thế giới.

Hiệp định này sẽ tăng cường hợp tác trong lĩnh vực kinh tế theo đó tất cả mọi quốc gia thành viên – dù lớn, dù nhỏ – đều đã nhất trí phòng chống hối lộ và tham nhũng, nhất trí thành lập công đoàn độc lập và cam kết thực thi các biện pháp bảo vệ môi trường.

TPP sẽ có nghĩa là cho phép tự do trao đổi ý tưởng và dữ liệu đồng thời thúc đẩy các tiêu chuẩn bổ sung, thiết yếu để tạo nền tảng cho nền kinh tế kỹ thuật số thống nhất của ASEAN.
Hiệp định này sẽ có nghĩa là đơn giản hóa quy trình đăng ký kinh doanh và đơn giản hóa các cách thức giải quyết tranh chấp kinh doanh.

Và hiệp định cũng có nghĩa là tạo điều kiện dễ dàng cho việc chuyển giao công nghệ từ nghiên cứu của các trường đại học tới khu vực tư nhân và lưu chuyển con người giữa các công việc và lĩnh vực khác nhau.

Như các bạn biết, theo những tiêu chuẩn hàng đầu, Việt Nam chắc chắn sẽ được hưởng lợi nhiều nhất từ TPP. Hiệp định này có tiềm năng gia tăng GDP của Việt Nam thêm gần 10% và gia tăng xuất khẩu khoảng 30% vào năm 2030.

Ngài Đại sứ Osius đã cho tôi biết các doanh nghiệp Hoa Kỳ – tin tưởng rằng TPP sẽ có hiệu lực – đã sẵn sàng nhiệt tình đón nhận những cơ hội ở Việt Nam như thế nào trong tất cả các ngành – từ hàng không tới năng lượng, từ công nghệ đô thị thông minh tới y tế. Thông qua việc đẩy mạnh các cam kết cải cách, Việt Nam chắc chắn sẽ giúp các doanh nghiệp và doanh nhân nêu trên có được niềm tin cần thiết để góp phần làm cho tương lai của Việt Nam có thể chuyển mình mạnh mẽ như đã diễn ra trong thời gian vừa qua.

Thứ ba, tôn trọng ý tưởng của con người không thể tách rời khỏi việc tôn trọng nhân phẩm.

Quyền tự do ngôn luận, tín ngưỡng, hội họp, bất đồng chính kiến, phản biện, phản đối, được tham gia vào các quyết định chính trị và kinh tế ảnh hưởng đến cuộc sống của mình – những quyền này đều là những thành tố cơ bản đối với bất kỳ quốc gia nào muốn phát huy tài năng của mọi người dân. Thực ra, việc thực hiện các quyền tự do này một cách hòa bình là biểu hiện cao nhất của lòng yêu nước.

Thật khó có thể tưởng tượng văn hóa khởi nghiệp năng động mà không có nền tảng là các quyền và quyền tự do để người dân cảm thấy có thể theo đuổi những khát vọng của mình, để bày tỏ quan điểm của mình, để biến những ý tưởng của họ thành hiện thực.

Người dân Việt Nam biết điều này và, vì các tờ báo và các đài truyền hình vẫn bị kiểm duyệt và bị pháp luật hạn chế nên giới trẻ Việt Nam đã chuyển sang mạng xã hội và blog để đọc tin tức và cất lên tiếng nói của họ.

Trước những đòi hỏi của xã hội, chính phủ Việt Nam đã đạt được một số tiến bộ về nhân quyền, phê chuẩn Công ước chống Tra tấn và Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền của Người khuyết tật, và lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại đã nhất trí cho phép công đoàn độc lập.

Chính phủ cũng đã nêu rõ những cam kết để hài hòa hóa pháp luật trong nước với các nghĩa vụ quốc tế về quyền con người và phù hợp với Hiến pháp của Việt Nam vốn đã đảm bảo các quyền tự do và các quyền cơ bản của con người.

Chúng tôi biểu dương những nỗ lực của Chính phủ trong việc tham vấn với các bên liên quan về tôn giáo và xã hội dân sự trong nước trong quá trình soạn thảo luật mới về tôn giáo. Chúng tôi hy vọng bản dự thảo cuối cùng của luật này sẽ bảo vệ quyền của tất cả những người mong muốn được tự do thực hiện tín ngưỡng của họ.

Chúng tôi kêu gọi chính phủ thả tất cả các tù nhân chính trị và chấm dứt sách nhiễu, bắt bớ và truy tố bất kỳ người nào – các nhà báo, bloggers, những nhà hoạt động xã hội dân sự hoặc sinh viên – vì đã thực hiện các quyền đã được quốc tế thừa nhận của họ. Không ai có thể bị đi tù vì đã thể hiện các quan điểm chính trị của họ một cách hòa bình.

Chúng tôi cũng khuyến khích chính phủ nhanh chóng và công minh điều tra những cáo buộc về việc lạm quyền của công an, vốn tạo ra cảm giác bất công và làm xói mòn ổn định xã hội.
Tất cả mọi quốc gia đều phải tự tìm cách tự quản lý của riêng mình. Không có quốc gia nào có phương cách hoàn hảo, bao gồm cả Hoa Kỳ. Ở chính đất nước tôi, chúng tôi thường thấy kết quả của những nỗ lực của mình vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của chính chúng tôi và hành động của chúng tôi vẫn chưa xứng với những lý tưởng.

Nhưng thước đo lòng quả cảm của chúng ta với tư cách những công dân, thước đó khả năng chống chịu của chúng ta với tư cách là các chính phủ, và thước đo sức mạnh của chúng ta với tư cách là các dân tộc, chính là cách chúng ta đối mặt với thử thách này – hoặc chúng ta quay trở lại các biện pháp đàn áp hay đe dọa, hoặc chúng ta đối mặt với những khiếm khuyết của mình một cách trung thực, công khai, minh bạch.

Hệ quả của lựa chọn này đang thể hiện rõ trên thế giới ngày nay, và kết quả đã quá rõ ràng. Việc thúc đẩy quyền con người và các quyền tự do cơ bản không phải là nguyên nhân dẫn tới dễ bị tổn thương hay mất an ninh. Trái lại, đó chính là cội nguồn sức mạnh to lớn nhất và là nhân tố đảm bảo mạnh mẽ nhất cho sự ổn định cho chúng ta với tư cách là các quốc gia tự do và đổi mới sáng tạo.

Thứ tư và là lý do cuối cùng, một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phát triển phải tự nhận thức sâu sắc và gắn kết với thế giới xung quanh nó.

Những kế hoạch kinh doanh mà các bạn viết ở Trung tâm Hoa Kỳ, những mối quan hệ cộng tác mà các bạn tạo lập ở Silicon Valley Việt Nam, có thể chưa có tính chất toàn cầu, nhưng Facebook ngày xưa cũng vậy khi Mark Zuckerberg xây dựng mạng xã hội ngay trong căn phòng ký túc xá của mình cho sinh viên ở khu vực Boston.

Ý tưởng, khái niệm một hệ sinh thái ở đây chính là một cộng đồng – một mạng lưới rộng lớn tập hợp những kết nối cho phép chúng ta có thể gây ảnh hưởng và tạo nguồn cảm hứng cho nhau và đòi hỏi chúng ta phải có trách nhiệm với nhau.

Sự chuyển đổi của Việt Nam – cũng giống như của rất nhiều quốc gia khác – đã được hỗ trợ và thậm chí còn được đẩy nhanh tiến độ nhờ một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ vì sự tiến bộ cho tất cả mọi quốc gia.

Các cơ hội mà trật tự này đem lại – thực ra đó chính là sự thịnh vượng và ổn định mà các nền kinh tế và xã hội của chúng ta được hưởng – đòi hỏi mỗi chúng ta phải có trách nhiệm đề cao các nguyên tắc, bảo vệ các chuẩn mực của nó, để đảm bảo các tiêu chuẩn của trật tự này không bị phai mờ.

Đó chính là lý do tại sao Hoa Kỳ và Việt Nam đang ngày càng hợp tác với nhau nhiều hơn trong nhiều vấn đề quan trọng toàn cầu – từ gìn giữ hòa bình quốc tế tới phòng chống buôn bán động vật hoang dã tới an ninh hàng hải, từ biến đổi khí hậu tới năng lượng hạt nhân dân sự tới y tế toàn cầu.

Chúng tôi biểu dương cam kết triển khai bệnh viện quân y dã chiến và công binh để ủng hộ các phái bộ gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc trên toàn thế giới của Việt Nam tại Hội nghị thượng đỉnh về gìn giữ hòa bình của Tổng thống Obama năm ngoái.

Chúng tôi cũng mong muốn Việt Nam có khả năng tốt hơn để ứng phó với thiên tai ngay tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.

Năm ngoái, tàu USNS Mercy – một trong hai tàu bệnh viện trong hạm đội của Hoa Kỳ – đã đến Đà Nẵng và lần đầu tiên tham gia diễn tập ứng phó thảm họa dân sự-quân sự và lập kế hoạch với các cơ quan chức năng của trung ương và địa phương. Chương trình này đã rất thành công.

Đồng thời chúng ta có mối quan hệ ngày càng hiệu quả trong lĩnh vực an ninh hàng hải. Hải quân hai nước đã tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực như tìm kiếm, cứu nạn và an toàn trên biển, và cũng đã cung cấp tàu, đào tạo và trang thiết bị cho Cảnh sát Biển Việt Nam để có thể duy trì luật pháp quốc tế và phòng chống tội phạm xuyên biên giới.

Hoa Kỳ và Việt Nam cùng chung lợi ích trong việc duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực. Trung Quốc cũng vậy. Song các hoạt động bồi đắp đảo quy mô lớn của Trung Quốc trên Biển Đông và việc họ tăng cường quân sự hóa các địa điểm này càng làm gia tăng căng thẳng trong khu vực và đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về ý đồ của nước này.

Biển Nam Trung Hoa – hay các bạn vẫn gọi là Biển Đông – là một trong những tuyến đường thương mại quan trọng bậc nhất trên thế giới, và tuyến đường này thành công bởi vì luật pháp quốc tế thúc đẩy quyền và quyền tự do của tất cả mọi quốc gia, bất kể quy mô, bất kể sức mạnh của họ như thế nào.

Chúng tôi hoan nghênh việc Trung Quốc trỗi dậy một cách hòa bình và tham gia vào hệ thống quốc tế dựa trên luật lệ. Chúng tôi có ý định thực sự như vậy. Chúng tôi đã tìm cách mở rộng và làm sâu sắc thêm việc hợp tác với Trung Quốc – một cách tiếp cận đã đem lại những tiến bộ thực sự về các vấn đề quan trọng từ biến đổi khí hậu cho tới ứng phó với virus Ebola và không phổ biến vũ khí hạt nhân.

Nhưng chúng tôi không ngần ngại giải quyết những khác biệt một cách thẳng thắn và trực tiếp. Bên lề của Hội nghị Thượng đỉnh An ninh Hạt nhân gần đây tại Washington, Tổng thống Obama đã tái khẳng định với tất cả các quốc gia về tầm quan trọng của thương mại không bị cản trở, các quyền và quyền tự do hàng hải và hàng không.

Hoa Kỳ không bày tỏ lập trường về nội dung của các yêu sách lãnh thổ khác nhau và cạnh tranh nhau, nhưng chúng tôi hết sức quan tâm tới cách thức thực hiện các yêu sách này.
Chúng tôi kêu gọi Trung Quốc – như chúng tôi kêu gọi tất cả mọi quốc gia – tôn trọng phán quyết có tính chất ràng buộc về pháp lý của Tòa Trọng tài thường trực trong vụ kiện Philippines-Trung Quốc khi phán quyết này được đưa ra; chứng tỏ thiện chí bằng cách làm rõ những yêu sách biển đảo của mình phù hợp với luật pháp quốc tế; thúc đẩy quyền tự do hàng hải; cam kết giải quyết những khác biệt bằng biện pháp hòa bình, bao gồm các cơ chế dựa trên luật lệ, như trọng tài chứ không thông qua hành động đơn phương; và nhất trí cùng hợp tác về ngoại giao nghiêm túc và theo quy trình ngoại giao để đưa ra được một sự đồng thuận về cách ứng xử đối với những khu vực tranh chấp.

Đồng thời, Hoa Kỳ sẽ bảo vệ lợi ích quốc gia của mình và hỗ trợ cho các đồng minh và đối tác của chúng tôi trong khu vực. Chúng tôi không tìm kiếm các căn cứ quân sự. Nhưng chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện quyền tự do hàng hải, hàng không và hoạt động ở bất kỳ nơi nào mà luật pháp quốc tế cho phép.

Tầm nhìn của chúng tôi về tương lai khu vực đã rõ ràng – đó là một tương lai mà ở đó các tranh chấp được giải quyết công khai và phù hợp với pháp quyền, các doanh nghiệp vươn lên dẫn đầu, đổi mới sáng tạo nở rộ, và có vô vàn những cơ hội đặc biệt dành cho giới trẻ như các bạn ở đây trong khắp khu vực.

Vào tháng Năm này, khi chiếc chuyên cơ Không lực Một hạ cánh ở Việt Nam và Tổng thống Obama sẽ vẫy chào người dân Việt Nam, một lần nữa ông sẽ chứng minh rằng các cựu thù có thể trở thành những đối tác bền chặt nhất.

Tổng thống chắc chắn sẽ không phải là người duy nhất trong chuyến công du đó.

Bên cạnh Tổng thống chắc chắn sẽ có một người lính mà tính cách đã được rèn giũa qua một cuộc chiến đắng cay nhất giữa hai quốc gia, và những trải nghiệm đau đớn đã giúp ông trở thành một trong những nhà ngoại giao hòa bình lỗi lạc nhất và một trong những Ngoại trưởng xuất sắc nhất của chúng tôi…. John Kerry.

Được khơi nguồn cảm hứng qua vai trò lãnh đạo của Tổng thống Obama, Ngoại trưởng Kerry và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, chúng ta có thể mường tượng được tương lai trong hai mươi năm tới khi mà mối quan hệ đối tác của chúng ta sẽ hiển nhiên như những lợi ích và giá trị chung giữa hai bên.

Khi đó sẽ không chỉ có 19.000 sinh viên Việt Nam học tập ở Hoa Kỳ – mà là 90.000 người, hoặc thậm chí còn nhiều hơn.

Khi đó nền kinh tế của chúng ta đan xen lẫn nhau và các thành phố được kết nối trực tiếp.

Khi đó chúng ta cùng hợp tác để đưa ra những giải pháp mới cho những thách thức vốn có từ lâu như nghèo đói và đại dịch.

Và khi đó chúng ta sẽ sát cánh bên nhau để thúc đẩy hòa bình và một trật tự vững chắc, dựa trên luật lệ.

Tôi biết rằng các bạn sẽ làm nhiều điều hơn là chỉ thừa hưởng tương lai này. Các bạn – tất cả các bạn trong hội trường này – các bạn sẽ xây dựng nên tương lai đó.

Tôi tin rằng các bạn sẽ có trách nhiệm với tương lai đó.

Và không gì có thể khiến tôi tin tưởng hơn và hy vọng nhiều hơn về sự thịnh vượng, an ninh, và nhân phẩm của cả hai dân tộc và của cả thế giới bằng người dân, giới trẻ, tương lai trong hội trường này.

Xin trân trọng cảm ơn.

Read the rest of this entry

Học tiếng Anh qua bài phát biểu của Tổng thống Obama

Standard
Trưa 24/5, Tổng thống Mỹ Obama có bài phát biểu 30 phút trước 2.000 trí thức và doanh nhân Việt Nam. Ông đã trích dẫn nhiều câu văn, thơ nổi tiếng của Lý Thường Kiệt, Nguyễn Du, Văn Cao…

Giáo viên tiếng Anh Smartcom Việt Nam

Toàn văn bài phát biểu của Tổng thống Obama tại Hà Nội đã bị cắt xén

Standard

Toàn văn bài phát biểu của Tổng thống Obama tại Hà Nội

Toàn văn bài phát biểu của Tổng thống Obama tại Hà Nội

Hôm nay, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Tổng thống Barack Obama đã có bài phát biểu 30 phút về quan hệ Việt-Mỹ. Chúng tôi xin gửi đến quý độc giả bản dịch toàn văn bài phát biểu.

Xin cảm ơn, xin cảm ơn rất nhiều.

Kính thưa Chính phủ và người dân Việt Nam, xin cảm ơn vì đã dành cho tôi sự chào đón rất nồng nhiệt trong chuyến thăm này. Và cũng xin cảm ơn tất cả các bạn đã có mặt tại đây hôm nay.

Người dân trên khắp lãnh thổ đất nước vĩ đại này, trong đó có rất nhiều thanh niên đại diện cho sự năng động, tài năng và niềm hi vọng của Việt Nam.

Trong chuyến thăm lần này, sự thân thiện của người dân Việt Nam đã chạm đến trái tim tôi. Bao nhiêu người xếp hàng dài trên các con phố, nở nụ cười và vẫy tay chào, đã giúp tôi cảm nhận được tình hữu nghị giữa con người hai nước.

Tối qua, tôi đã có dịp đến thăm phố cổ Hà Nội, được thưởng thức những món ăn tuyệt vời của Việt Nam. Tôi đã ăn thử bún chả, uống một chút bia Hà Nội. Nhưng tôi phải nói rằng, trên những con phố đông đúc tại đây, chưa bao giờ trong đời tôi nhìn thấy nhiều xe máy đến thế.

Thế nên là tôi chưa dám thử qua đường, nhưng có lẽ lần tới tôi quay lại thăm Việt Nam, các bạn có thể hướng dẫn tôi qua đường.

Tôi không phải Tổng thống Mỹ đầu tiên đến Việt Nam trong những năm gần đây, nhưng tôi là Tổng thống đầu tiên – cũng giống như nhiều người trong số các bạn ở đây hôm nay – lớn lên sau khi cuộc chiến đã khép lại. Khi những lực lượng quân đội Mỹ cuối cùng rời Việt Nam, tôi mới 13 tuổi.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về người Việt Nam là khi tôi còn ở Hawaii, nơi tôi sinh ra và lớn lên. Tôi đã được gặp cộng đồng người Mỹ gốc Việt ở đó, nhiều người trong số đó còn trẻ hơn tôi.

Toàn văn bài phát biểu của Tổng thống Obama tại Hà Nội - Ảnh 1.

Tổng thống Obama phát biểu tại Trung tâm Hôi nghị Quốc gia.

Giới trẻ Việt Nam hiện nay, giống như hai cô con gái tôi, được sinh ra và lớn lên trong hòa bình và bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ. Khi đến Việt Nam, tôi ý thức được quá khứ, ý thức được lịch sử khó khăn, nhưng mặt khác cũng hướng đến tương lai, đến sự thịnh vượng, đến những mục tiêu an ninh và ổn định để hai nước có thể thúc đẩy lẫn nhau.

Tôi cũng đến đây với sự trân trọng dành cho lịch sử huy hoàng của dân tộc Việt Nam. Trong suốt hàng thiên niên kỉ, người nông dân đã chăm sóc cho những mảnh đất này. Lịch sử đã được thể hiện qua trống đồng Đông Sơn.

Trên khúc sông này, Hà Nội đã đứng vững trong hơn nghìn năm qua. Thế giới luôn quý trọng lụa và những bức tranh của Việt Nam; còn Văn Miếu là minh chứng cho sự ham học hỏi của con người các bạn.

Nhưng trong nhiều thế kỉ, vận mệnh của Việt Nam lại nhiều lần bị các thế lực bên ngoài chi phối, những mảnh đất yêu thương đã có lúc thuộc về người khác. Nhưng cũng như cây tre, tinh thần bất khuất của người Việt Nam đã được thể hiện rõ qua những câu thơ của Lý Thường Kiệt:

Sông núi nước Nam vua Nam ở.

Rành rành định phận ở sách trời.

Hôm nay, tôi cũng xin nhắc lại bề dày lịch sử giữa người Việt và người Mỹ mà chúng ta thường bỏ quên. Hơn 200 năm trước, một trong những ông tổ lập quốc của Mỹ là Thomas Jefferson khi tìm kiếm giống gạo cho trang trại của mình, đã tìm đến Việt Nam. Ông đã nói giống gạo của Việt Nam nổi tiếng vừa trắng, vừa ngon, mà năng suất lại rất cao.

Không lâu sau đó, những con thuyền của Mỹ đã cập cảng Việt Nam, tìm kiếm cơ hội giao thương. Trong Thế chiến II, người Mỹ đã tới Việt Nam hỗ trợ cuộc kháng chiến chống lại ách đô hộ. Khi máy bay Mỹ bị bắn rơi, người dân Việt Nam đã cứu những viên phi công gặp nạn.

Vào ngày tuyên bố độc lập của Việt Nam, người dân đã đổ ra những con phố trên khắp Hà Nội, và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích tuyên ngôn độc lập của Mỹ, rằng mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng và được hưởng các quyền bất khả xâm phạm, trong đó có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Trong một thời kì khác, việc chia sẻ những giá trị nói trên, cũng như mong muốn lật đổ chế độ thực dân, đáng lẽ ra đã có thể đưa hai nước chúng ta xích lại gần nhau sớm hơn.

Nhưng thay vào đó, Chiến tranh Lạnh và nỗi sợ về khác biệt chế độ đã đưa chúng ta đến giao tranh. Và cũng giống như bất kì giao tranh nào trong lịch sử nhân loại, chúng ta đã rút ra được một bài học về sự thật: Chiến tranh, dù mục đích của mỗi bên có là gì, cũng sẽ gây ra những nỗi đau, dẫn đến những bi kịch.

Tại đài tưởng niệm liệt sĩ cũng như trên bàn thờ của các gia đình trên khắp đất nước các bạn, chúng ta nhớ về 3 triệu người Việt Nam, cả binh lính cũng như dân thường, đã thiệt mạng trong cuộc chiến.

Tại đài tưởng niệm chiến tranh ở Washington, tên của 53.315 binh sĩ Mỹ thiệt mạng trong cuộc chiến cũng được khắc ghi. Những người cựu chiến binh và gia đình của các nạn nhân ở cả hai nước chúng ta, đến giờ vẫn phải chịu đựng nỗi đau mất mát.

Toàn văn bài phát biểu của Tổng thống Obama tại Hà Nội - Ảnh 2.

Nhiều bạn trẻ Việt Nam đã có mặt để lắng nghe bài phát biểu của ông Obama.

Tại Mỹ, chúng tôi quan niệm rằng dù quan điểm về chiến tranh có bất đồng, thì chúng tôi luôn phải có trách nhiệm tôn vinh những binh sĩ tham chiến, và chào đón họ trở về với sự tôn trọng mà họ đáng được hưởng.

Ngày nay, người Việt và người Mỹ mỗi bên chúng ta có thể cùng nhau cảm thông với mất mát của phía bên kia. Trong 2 thập kỉ qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiến vô cùng lớn, và thế giới đã thấy được những thành quả của các bạn.

Với cải cách kinh tế và những hiệp định thương mại, trong đó có các hiệp định với Mỹ, Việt Nam đã bước vào nền kinh tế toàn cầu, xuất khẩu các mặt hàng Việt trên khắp thế giới. Ngày càng nhiều nguồn đầu tư nước ngoài đang đổ vào Việt Nam. Và với một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất châu Á, Việt Nam đã vươn lên trở thành một quốc gia thu nhập trung bình.

Chúng ta thấy được sự phát triển của Việt Nam qua những tòa nhà chọc trời ở Hà Nội, ở TP.HCM, những khu mua sắm, những trung tâm thương mại.

Chúng ta thấy được sự phát triển ấy qua những vệ tinh được Việt Nam phóng vào vũ trụ, qua một thế hệ trẻ khởi nghiệp trên mạng, tìm kiếm những hướng đi mới.

Chúng ta thấy được sự phát triển ấy qua hàng chục triệu người Việt Nam kết nối với nhau qua mạng xã hội Facebook hay Instagram. Và các bạn không chỉ đăng ảnh selfie, dù tôi biết là các bạn chụp selfie nhiều lắm, và tôi cũng đã nhận được rất nhiều lời đề nghị chụp selfie cùng các bạn.

Các bạn cũng đang thể hiện quan điểm về những vấn đề mà mình quan tâm, ví dụ như bảo vệ những cây cổ thụ ở Hà Nội. Vậy nên tất cả những sự năng động này đã đem lại bước tiến trong cuộc sống của người dân.

Việt Nam đã giảm thiểu đáng kể số lượng hộ nghèo, tăng thu nhập trong các hộ gia đình, và đưa hàng triệu người dân đến với tầng lớp trung lưu. Đói nghèo, bệnh tật, tỉ lệ tử vong ở trẻ em, tất cả đều giảm.

Số lượng người dân được tiếp cận nước sạch và sử dụng điện, số lượng các cậu bé, và cả các cô bé, được đến trường, và tỉ lệ biết chữ, tất cả đều tăng.

Đây đều là những thành tựu đáng kinh ngạc mà các bạn đã đạt được trong khoảng thời gian ngắn. Và đi cùng với sự thay đổi của Việt Nam, cũng là sự thay đổi trong mối quan hệ Việt-Mỹ.

Chúng ta học được bài học từ thiền sư Thích Nhất Hạnh đáng kính. Ông từng nói rằng: “Chỉ có những đối thoại chân thành mới làm cho cả hai bên sẵn sàng thay đổi”. Và như thế, chính cuộc chiến tranh từng chia cắt chúng ta đã trở thành nguồn cảm hứng để hàn gắn những vết thương.

Nó giúp chúng ta tìm được những người mất tích và đưa họ về quê nhà, giúp chúng ta dò tìm và tháo gỡ bom mìn còn sót lại từ cuộc chiến, vì ta không thể để những đứa trẻ phải mất chân khi chúng đang chơi đùa.

Chúng ta sẽ tiếp tục hỗ trợ người tàn tật, trong đó có trẻ em, cũng như loại bỏ chất độc da cam, để Việt Nam có thể lấy lại nhiều mảnh đất đang còn nhiễm độc. Chúng ta tự hào về những gì đã làm được tại Đà Nẵng, và sẽ tiếp tục hỗ trợ những nỗ lực của các bạn tại Biên Hòa.

Xin cũng đừng quên rằng, những nỗ lực hàn gắn của chúng ta có công lao rất lớn của những người cựu chiến binh, những đối thủ ở hai đầu chiến tuyến khi xưa.

Ví dụ như Thượng nghị sĩ John McCain, người đã từng là tù nhân chiến tranh ở Việt Nam trong nhiều năm. Khi ông McCain gặp Tướng Giáp, Tướng Giáp đã nói rằng chúng ta không nên cứ là kẻ thù, mà hãy là bạn. Hay như tất cả những cựu chiến binh khác, cả Việt Nam lẫn Mỹ, những người đã giúp chúng ta hàn gắn và xây dựng những quan hệ mới.

Toàn văn bài phát biểu của Tổng thống Obama tại Hà Nội - Ảnh 3.

Thượng nghị sĩ John McCain trong một lần trở lại Việt Nam, nơi ông từng bị bắt làm tù nhân chiến tranh. Ảnh: Politico

Không nhiều người có nhiều đóng góp trong những nỗ lực ấy như cựu trung úy Hải quân nay đã trở thành Ngoại trưởng Mỹ, ông John Kerry, người cũng có mặt tại đây hôm nay. Thay mặt tất cả, tôi xin cảm ơn ông, John, vì những nỗ lực tuyệt vời của ông.

Bởi các cựu chiến binh đã soi đường cho chúng ta. Bởi vì chiến tranh, chúng ta có can đảm để theo đuổi hòa bình. Nhân dân hai nước đang trở nên thân thiết hơn bao giờ hết. Hợp tác thương mại ngày càng tăng, sinh viên và học giả hai nước đang cùng nhau học tập.

Chúng tôi đón nhiều sinh viên Việt Nam hơn bất cứ quốc gia nào khác ở Đông Nam Á. Và hàng năm, các bạn đón thêm ngày càng nhiều khách du lịch Mỹ. Có cả những người Mỹ trẻ tuổi đeo ba lô tới Hà Nội 36 phố phường, tới những cửa hiệu ở phố cổ Hội An, rồi cố đô Huế.

Người Mỹ và người Việt Nam chúng ta đều có thể đồng cảm với những lời nhạc sĩ Văn Cao đã viết:

“Từ đây người biết thương người

Từ đây người biết yêu người.”

Là một Tổng thống, tôi tin tưởng vào những tiến triển ấy. Với mối quan hệ đối tác toàn diện mới, Chính phủ hai nước đang làm việc một cách gần gũi hơn bao giờ hết. Và với chuyến thăm này, chúng ta đã đặt mối quan hệ Việt – Mỹ lên một nền tảng vững chắc hơn trong nhiều thập kỷ tới.

Xét trên một phương diện, lịch sử lâu năm của hai nước, khởi nguồn với Thomas Jefferson từ hơn 2 thế kỷ trước, giờ đã quay trở lại điểm ban đầu. Phải mất rất nhiều thời gian và nỗ lực nhưng giờ chúng ta đã có thể nói điều mà trước kia là không tưởng.

Ngày hôm nay, Việt Nam và Mỹ đã trở thành đối tác. Và tôi tin rằng kinh nghiệm của chúng ta là bài học cho cả thế giới, ở thời điểm mà nhiều cuộc xung đột tưởng chừng khó giải quyết và dường như không bao giờ kết thúc.

Chúng ta đã cho thấy một điều rằng: Mối quan hệ có thể thay đổi, và tương lai sẽ khác đi nếu chúng ta không làm tù nhân cho quá khứ.

Chúng ta đã cho thấy hòa bình bao giờ cũng tốt đẹp hơn chiến tranh. Chúng ta đã cho thấy giá trị con người đem lại lợi ích tốt đẹp nhất khi hợp tác chứ không phải trong xung đột. Đó là điều mà Việt Nam và Mỹ có thể chỉ ra cho thế giới.

Mối quan hệ đối tác toàn diện mới giữa Mỹ và Việt Nam bắt nguồn từ một sự thật cơ bản. Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền và không nước nào có thể áp đặt hoặc quyết định vận mệnh của các bạn.

Nước Mỹ có một mối quan tâm. Chúng tôi quan tâm tới sự thành công của Việt Nam. Nhưng quan hệ đối tác toàn diện của chúng ta vẫn đang ở giai đoạn đầu. Và trong phần thời gian còn lại của nhiệm kỳ, tôi muốn chia sẻ với các bạn điều mà tôi tin rằng có thể dẫn lối cho chúng ta trong những thập kỷ tới.

Đầu tiên, chúng ta hãy cùng nhau làm việc để tạo ra những cơ hội thực sự và sự phồn thịnh cho nhân dân của mình. Chúng ta đều biết công thức để đạt được thành công kinh tế trong thế kỷ 21.

Trong nền kinh tế toàn cầu của chúng ta, đầu tư và thương mại sẽ xuất hiện ở bất cứ nơi nào có luật pháp. Bởi không ai muốn phải đi hối lộ để được kinh doanh, không ai muốn bán hàng hoặc đi học khi họ không biết mình sẽ bị đối xử ra sao.

Trong nền kinh tế dựa trên tri thức, việc làm sản sinh ở nơi người ta có thể tự do suy nghĩ, trao đổi ý tưởng và sáng tạo. Và mối quan hệ đối tác kinh tế thực sự không phải là một đất nước đi khai thác tài nguyên của một nước khác, mà là về đầu tư vào những nguồi tài nguyên lớn lao của chúng ta.

Đó là con người, kỹ năng và tài năng, dù sống ở làng quê hay thị thành. Và đó là hình thức đối tác mà nước Mỹ đưa ra.

Như tôi đã công bố hôm qua, Tổ chức Hòa bình (Peace Corps) lần đầu tiên tới Việt Nam sẽ tập trung vào công tác giảng dạy tiếng Anh. Sau thế hệ thanh niên Mỹ tham chiến tại Việt Nam, một thế hệ sẽ tới đây để dạy học, để xây dựng và thắt chặt mối quan hệ bằng hữu giữa chúng ta.

Một số công ty công nghệ hàng đầu và học viện của Mỹ đang bắt tay với các trường đại học của Việt Nam để đẩy mạnh đào tạo khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học và y học.

Bởi vì dù chúng tôi có chào đón thêm nhiều sinh viên Việt Nam tới Mỹ, chúng tôi cũng tin rằng những người trẻ tuổi xứng đáng được đào tạo theo chuẩn quốc tế ngay tại đây, tại Việt Nam.

Và đó là một trong những lí do khiến chúng tôi rất hào hứng khi mùa thu này, đại học Fulbright Việt Nam sẽ bắt đầu đi vào hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh. Đó là trường đại học dân lập phi lợi nhuận đầu tiên của Việt Nam, với học bổng toàn phần cho những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn.

Sinh viên, học giả và các nghiên cứu sinh sẽ tập trung nghiên cứu chính sách công, quản lý, kinh doanh, kỹ thuật, khoa học máy tính và các ngành khai phóng (những môn học được xem là thiết yếu), tất cả mọi thứ, từ thơ của Nguyễn Du, triết học của Phan Chu Trinh cho tới toán học của Ngô Bảo Châu.

Và chúng tôi sẽ tiếp tục hợp tác với những doanh nhân trẻ tuổi bởi chúng tôi tin rằng nếu có thể tiếp cận với các kỹ năng, công nghệ và nguồn vốn mà các bạn cần thì không gì có thể ngăn trở các bạn, Những người phụ nữ Việt Nam tài giỏi cũng không là ngoại lệ.

Chúng tôi tin rằng bình đẳng giới là một nguyên tắc quan trọng. Từ thời Hai Bà Trưng cho tới nay, những người phụ nữ mạnh mẽ đã giúp Việt Nam tiến lên phía trước. Và có nhiều minh chứng rất rõ ràng cho điều đó.

Tôi đã nói điều này ở tất cả những nơi tôi từng đặt chân tới. Gia đình, cộng đồng và đất nước sẽ trở nên thịnh vượng hơn nếu phụ nữ có cơ hội bình đẳng để tiến tới thành công trong học tập, công việc và chính trị. Điều đó là đúng ở tất cả mọi nơi, trong đó có Việt Nam.

Chúng tôi sẽ tiếp tục nỗ lực để khơi dậy tiềm năng kinh tế của các bạn bằng thỏa thuận Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Tại Việt Nam, TPP sẽ cho phép các bạn đưa thêm nhiều mặt hàng ra thế giới và thu hút các nguồn đầu tư mới. Tất nhiên thỏa thuận này sẽ đòi hỏi một số cải cách để bảo vệ người lao động và quyền sở hữu trí tuệ. Nhưng Mỹ sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam và thế giới thực hiện đầy đủ giao ước.

Tôi muốn các bạn biết rằng, với tư cách Tổng thống Mỹ, tôi ủng hộ mạnh mẽ TPP bởi như vậy, các bạn cũng có thể mua thêm nhiều hàng hóa của chúng tôi, sản xuất tại Mỹ. Hơn nữa, tôi ủng hộ TPP vì những lợi ích chiến lược quan trọng.

Việt Nam sẽ bớt bị phụ thuộc vào một đối tác thương mại duy nhất và có được mối quan hệ rộng rãi hơn, với nhiều đối tác gồm cả Mỹ. TPP sẽ giúp đẩy mạnh hợp tác khu vực, giúp giải quyết vấn đề bình đẳng kinh tế và thúc đẩy nhân quyền với những cải thiện về lương và chế độ làm việc.

Lần đầu tiên ở Việt Nam, quyền thành lập nghiệp đoàn độc lập và luật cấm lao động trẻ em được thiết lập và đẩy mạnh. Ngoài ra, TPP cũng có những phương thức bảo vệ môi trường và chống tham nhũng thương mại quyết liệt hơn.

Đó là điều mà TPP sẽ mang tới cho tất cả chúng ta bởi Mỹ, Việt Nam và các đối tác khác sẽ phải tuân thủ nguyên tắc mà các bên đã cùng nhau đưa ra. Đó là tương lai đang đợi chúng ta. Chúng ta phải đạt được TPP vì sự thịnh vượng và an ninh quốc gia.

Nhân đây tôi cũng xin được nói đến cấp độ hợp tác thứ hai: hợp tác an ninh Việt-Mỹ.

Với chuyến thăm này, chúng ta đã đưa mối quan hệ hợp tác an ninh lên tầm cao mới, củng cố thêm niềm tin cho những người đang khoác trên mình bộ quân phục. Chúng tôi tiếp tục đề nghị được huấn luyện và cung cấp thiết bị tuần duyên để tăng cường năng lực hàng hải cho Việt Nam. Chúng ta là đối tác cứu trợ nhân đạo trong trường hợp thảm họa xảy ra.

Như công bố tôi đưa ra hôm qua, về việc dỡ bỏ hoàn toàn cấm vận vũ khí, Việt Nam sẽ có được những trang thiết bị quân sự cần thiết để đảm bảo an ninh quốc gia. Và Mỹ đang thể hiện sự cam kết trong tiến trình bình thường hóa quan hệ toàn diện với Việt Nam.

Nói rộng ra thì thế kỷ 20 đã dạy tất cả chúng ta, cả Mỹ và Việt Nam rằng trật tự thế giới, mà an ninh chung phụ thuộc vào, đều bắt nguồn từ những nguyên tắc nhất định.

Dù lớn hay nhỏ thì chủ quyền của một quốc gia cũng cần được tôn trọng. Và lãnh thổ của họ là không thể xâm phạm. Các nước lớn không được phương hại tới các nước nhỏ hơn. Tranh chấp cần được giải quyết một cách hòa bình.

Các cơ chế vùng như ASEAN hay khu vực Đông Á cần tiếp tục được tăng cường. Cá nhân tôi cũng chính phủ Mỹ đều tin rằng, đó là mối quan hệ đối tác mà chúng tôi hướng tới với khu vực này. Đây là tinh thần, là kỳ vọng mà chúng tôi đã thúc đẩy từ đầu năm nay, khi tôi trở thành Tổng thống Mỹ đầu tiên tới thăm Lào.

Tại Biển Đông, Mỹ không phải là bên tranh chấp, nhưng chúng tôi sẽ sát cánh cùng đối tác thúc đẩy các nguyên tắc cốt lõi như tự do hàng hải, tự do hàng không, các quyền lợi hợp pháp không thể bị ngăn cản và giải pháp hòa bình cho các tranh chấp thông qua biện pháp pháp lý, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Toàn văn bài phát biểu của Tổng thống Obama tại Hà Nội - Ảnh 4.

Và khi chúng ta hợp tác chặt chẽ với nhau hơn nữa trong những lĩnh vực mà tôi vừa nêu ở trên, thì quan hệ đối tác của chúng ta sẽ bao gồm một yếu tố nữa: giải quyết những khác biệt còn tồn tại giữa 2 chính phủ, trong đó có vấn đề nhân quyền.

Tôi nói điều này nhé, không phải chỉ có riêng Việt Nam, mà chẳng có quốc gia nào là hoàn hảo. Đã 2 thế kỷ rồi, nhưng nước Mỹ vẫn đang phải nỗ lực để đạt được những lý tưởng chúng tôi đề ra từ khi lập quốc.

Chúng tôi vẫn đang phải sửa chữa thiếu sót của mình – như tiền chi phối chính trị quá nhiều, bất bình đẳng trong các tầng lớp xã hội ngày một gia tăng. Định kiến về chủng tộc còn tồn tại trong hệ thống tư pháp hình sự. Dù làm cùng một loại công việc, nhưng phụ nữ vẫn chưa được hưởng mức lương ngang bằng với nam giới.

Chúng tôi vẫn còn nhiều vấn đề và chúng tôi không né tránh những lời chỉ trích. Tôi xin cam đoan là tôi luôn phải nghe đến những vấn đề này mỗi ngày.

Nhưng chính sự chỉ trích đó, việc tranh luận cởi mở đó, khi chúng tôi đối diện với sự chưa hoàn thiện của mình và cho mọi người đều có quyền được nói tiếng nói của mình, thì nó đã giúp chúng tôi phát triển mạnh mẽ hơn, thịnh vượng hơn, công bằng hơn.

Như tôi đã nói, Mỹ không tìm cách áp đặt thể chế của mình lên Việt Nam. Những quyền mà tôi nói tới, tôi tin tưởng, đều không phải là giá trị Mỹ, mà tôi cho rằng đó là những giá trị phổ quát được viết trong Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền.

Hiến pháp Việt Nam cũng đề cập tới quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền được hội họp, quyền được lập hội, quyền được biểu tình. Đó là những gì được viết trong Hiến pháp Việt Nam.

Như vậy, đây thực sự là vấn đề của tất cả chúng ta, của mỗi một quốc gia – những người đang cố gắng quyết tâm tuân thủ các nguyên tắc này, để đảm bảo rằng tất cả chúng ta, những thành viên trong Chính phủ, đều thực tâm hướng tới những lý tưởng đó.

Trong vài năm gần đây, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ. Việt Nam cam kết sửa đổi luật cho phù hợp với hiến pháp mới theo các tiêu chuẩn quốc tế. Theo luật mới, chính phủ sẽ công khai nhiều hơn về vấn đề ngân sách và người dân có quyền tiếp cận nhiều thông tin hơn.

Như tôi nói, Việt Nam đã cam kết cải cách kinh tế, cải cách lao động theo yêu cầu của TPP. Đây đều là những bước tiến lạc quan.

Và cuối cùng, chỉ có người Việt Nam mới được quyền quyết định tương lai của Việt Nam – mỗi quốc gia đều phải đi con đường đó. Hai quốc gia chúng ta khác biệt nhau về truyền thống, khác biệt về hệ thống chính trị, khác biệt về văn hóa.

Cho phép tôi được nói ra quan điểm của mình, với tư cách là một người bạn của Việt Nam. Tôi tin rằng một quốc gia sẽ thành công hơn khi những giá trị phổ quát được tuân thủ.

… (đảng cộng sản chỉ đạo bỏ đoạn này)

Việt Nam sẽ có cách làm khác với Mỹ, và mỗi chúng ta sẽ làm khác với những quốc gia trên thế giới, nhưng có những nguyên tắc cơ bản mà tôi tin rằng chúng ta nên cố gắng tuân thủ và cải thiện.

Và tôi nói điều này, với tư cách là người sắp kết thúc nhiệm kỳ, tôi may mắn có gần 8 năm để nhìn lại, quan sát cách chính phủ của chúng tôi hoạt động và tương tác với các nước trên thế giới, nhũng nước cũng đang liên tục nỗ lực cải thiện các bộ máy của mình.

Cuối cùng, tôi cho rằng quan hệ hợp tác của chúng ta có thể vượt qua các thách thức toàn cầu mà không quốc gia nào có thể tự mình giải quyết được.

Nếu chúng ta có thể đảm bảo sức khỏe của người dân và sự tươi đẹp của hành tinh này thì mới có thể phát triển bền vững, những kỳ quan thiên nhiên như vịnh Hạ Long hay hang Sơn Đoòng phải được gìn giữ cho con cháu của chúng ta.

Mực nước biển dâng cao đang đe dọa bờ biển và đường thủy, nơi rất nhiều người dân Việt Nam dựa vào đó để sinh sống. Và vì vậy, là một đối tác trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu, chúng ta cần phải tuân thủ cam kết đã được ký kết ở Paris.

Chúng ta cần phải giúp đỡ người dân và các ngôi làng, những người sống dựa vào nghề đánh bắt cá, thích ứng với tình hình, mang thêm năng lượng sạch tới những khu vực như Đồng Bằng Sông Cửu Long – vựa lúa của thế giới mà chúng ta rất cần để đảm bảo lương thực cho con cháu đời sau.

Và chúng ta có thể cứu sống nhiều người dân bên ngoài lãnh thổ của mình bằng cách giúp các quốc gia cải thiện những vấn đề như hệ thống chăm sóc sức khỏe, chúng ta có thể ngăn chặn sự bùng phát các dịch bệnh đe dọa mạng sống của tất cả chúng ta.

Và khi Việt Nam cam kết sâu hơn vào nỗ lực gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc thì Mỹ tự hào giúp đỡ huấn luyện lực lượng gìn giữ hòa bình của các bạn.

Một điều thực sự đáng chú ý là hai quốc gia của chúng ta, từng đối đầu, nay sát cánh bên nhau và còn giúp đỡ các nước khác giành hòa bình.

Vì thế, mối quan hệ đối tác của chúng ta, ngoài hợp tác song phương, còn cho phép chúng ta giúp định hình môi trường quốc tế theo một cách tích cực.

Việc nhận thức được một cách đầy đủ tầm nhìn mà tôi nêu ra ngày hôm nay không phải diễn ra trong một sớm một chiều, cũng không thể tránh khỏi những vấp váp, thụt lùi. Sẽ có những lúc hiểu lầm. Cần phải nỗ lực không ngừng và đối thoại thực sự để hai bên đều tiếp tục thay đổi.

Nhưng nhìn lại tất cả chặng đường lịch sử và cả những rào cản mà chúng ta đã vượt qua được, tôi đứng trước các bạn ngày hôm nay, vô cùng lạc quan về tương lai chung của chúng ta.

Sự tin tưởng của tôi luôn bắt nguồn từ tình bạn và khát vọng chung của người dân hai nước chúng ta. Tôi nghĩ rằng tất cả người Việt gốc Mỹ, những người đã vượt qua biển cả rộng lớn – một số người là để được đoàn tụ với gia đình lần đầu tiên sau nhiều thập kỷ, và những người, như Trịnh Công Sơn tửng viết trong bài hát của mình, đã dang tay, mở rộng trái tim và nhìn thấy tình người trong nhau.

Tôi nghĩ đến nhiều người Mỹ gốc Việt đã thành công trên chặng đường đời – họ là bác sĩ, nhà báo, thẩm phán, công chức. Một trong số họ, người sinh ở đây, đã viết cho tôi một lá thư và nói rằng nhờ ơn Chúa, ông ấy đã có thể sống Giấc mơ Mỹ của mình, ông tự hào là người Mỹ nhưng cũng tự hào về nguồn gốc Việt Nam của mình

Ngày hôm nay, ông ấy cũng có mặt ở đây, ông ấy quay trở lại mảnh đất nơi mình sinh ra bởi ông ấy nói rằng khát khao cháy bỏng của ông ấy là nâng cao đời sống của người Việt.

Tôi nghĩ về một thế hệ người Việt Nam mới – rất nhiều các bạn ở đây, những người sẵn sàng để lại dấu ấn trên thế giới. Và tôi muốn nói với tất cả những bạn trẻ đang lắng nghe rằng, tài năng, động lực và ước mơ của các bạn, với những điều đó, thì Việt Nam có mọi thứ mà mình cần để lớn mạnh.

Số phận nằm trong tay chính các bạn. Đây là thời đại của các bạn. Và khi các bạn theo đuổi tương lai mà các bạn muốn, tôi muốn các bạn biết rằng, nước Mỹ sẽ ở bên cạnh các bạn, với vai trò là đối tác cũng như bằng hữu.

Nhiều năm sau này, khi mà ngày càng có nhiều người Mỹ và người Việt Nam cùng nhau học tập, cùng nhau hợp tác kinh doanh, sát cánh thúc đẩy quyền con người và bảo vệ hành tinh của chúng ta, tôi hi vọng các bạn sẽ nhớ lại khoảnh khắc này và có thêm hi vọng từ tầm nhìn mà tôi vạch ra ngày hôm nay.

Hoặc, nói như trong cuốn Truyện Kiều các bạn thuộc nằm lòng có câu:

Rằng trăm năm cũng từ đây.

Của tin gọi một chút này làm ghi

Cảm ơn các bạn. Cảm ơn Việt Nam!

Read the rest of this entry

Nhận diện “phản động” từ phát biểu của Obama

Standard

BS Phan Xuân Trung

Từ trước đến nay tôi nghe người ta nói nhiều về “phản động” và “thế lực thù địch” nhưng không hình dung ra được họ là ai, cách nhận diện ra họ như thế nào. Sau khi nghe và đọc lại bài phát biểu của Tổng thống Hoa Kỳ, tôi đã hiểu ra được các khái niệm đó. Cách hiểu của tôi có thể sẽ rất khác với các bạn khác.

Trong bài phát biểu của TT Obama tại Hà Nội có đoạn: “Những quyền mà tôi nói đến không phải chỉ là giá trị của Mỹ, mà là phổ quát, được nêu trong Tuyên ngôn nhân quyền. Chúng cũng có trong Hiến pháp của chính VN: quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, bầu cử, lập hội, biểu tình…”

Hiến pháp của Việt Nam tuyên bố người Việt Nam có những quyền cơ bản của loài người văn minh, bảo vệ quyền cơ bản của từng con người. Nhân dân Việt Nam đã chiến đấu và nhà nước Việt Nam đang phấn đấu để bảo vệ những quyền đó của người dân Việt Nam.

Đó là chiều hướng tích cực, tiến bộ, văn minh mà dân tộc Việt Nam hướng tới.

Theo đó, tất cả các lực cản nào cản trở sự phát triển này của con người Việt Nam được xem là phản động (ngáng đường, cản trở, đẩy lùi, ngăn cản…), là chống lại chiều hướng tích cực nêu trên.

Từ đó ta dễ dàng nhận diện được ai là phản động:

– Những ai ngăn cấm tự do ngôn luận, bịt miệng người dân.
– Những ai cấm đoán báo chí, tranh biếm họa, bình luận phê phán…
– Những ai ngăn cản quyền tiếp cận thông tin, giấu diếm thông tin, thiếu minh bạch trong hoạt động liên quan đến xã hội.
– Những ai không cho bầu cử, không tổ chức cho dân chúng được quyền lựa chọn lãnh đạo, người quản lý tài đức, đủ khá năng, hợp lòng dân.
– Những ai cấm lập hội, giải tán các tổ chức, đoàn thể của nhân dân.
– Những ai cấm biểu tình, giải tán biểu tình, đánh đập, bắt giam người biểu tình.

Tất thảy những người, những lực lượng có các hành vi trên, chống lại quyền con người đã được hiến pháp quy định chính là phản động và là thế lực thù địch của nhân dân Việt Nam.

– See more at: https://www.danluan.org/tin-tuc/20160526/nhan-dien-phan-dong-tu-phat-bieu-cua-obama#sthash.Syk8sBOR.dpuf