Nguyên tắc chủ quyền nhân dân trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi năm 2013: có đổi mới, nhưng nửa vời và mâu thuẫn – Nguyễn Cửu Việt

Standard

Nguyên tắc chủ quyền nhân dân trong Dự thảo Hiến pháp sửa đổi năm 2013: có đổi mới, nhưng nửa vời và mâu thuẫn – Nguyễn Cửu Việt

POSTED BY  ⋅ APRIL 21, 2013

Trong một hiến pháp bất kỳ, hai nguyên tắc quan trọng nhất phải quan tâm quy định là nguyên tắc chủ quyền nhân dân và nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước. Bởi vì, hiến pháp là bản khế ước của nhân dân[1], vì thế trước hết nó phải thể hiện chủ quyền nhân dân. Bản khế ước này đồng thời phải là văn bản giao quyền cho nhà nước và quy định nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước. Trong bài viết, tác giả chỉ bàn thêm, ngắn gọn về nội dung nguyên tắc chủ quyền nhân dân trong Dự thảo, do trước đây đã có nhiều bài viết bàn về nguyên tắc này trước khi có Dự thảo, trong đó có bài của tác giả[2].

1. Tuyên bố chủ quyền thuộc về nhân dân

Nhìn chung, nguyên tắc chủ quyền nhân dân trong Dự thảo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) được công bố ngày 02/01/2013 (Dự thảo[3]) thể hiện đậm nét hơn so với Hiến pháp 1992 hiện hành, thể hiện:

1) Tuyên bố tại Điều 1 (sửa đổi, bổ sung Điều 1 cũ): “Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước dân chủ, độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”. Ý mới quan trọng là nước ta là một nước dân chủ. Đây là nguyên tắc rất quan trọng mà các hiến pháp tiên tiến đều quy định – nguyên tắc dân chủ. Nguyên tắc dân chủ được thể hiện tập trung ở các quy định về quyền con người, quyền công dân ở Chương II Dự thảo và các nội dung khác của Dự thảo; tuy nhiên, bài viết không đi sâu vào phân tích Chương II Dự thảo. Trong thời đại dân chủ và nhà nước pháp quyền, quy định như vậy là phù hợp.

Nhưng dưới góc độ khác, nguyên tắc dân chủ gắn liền với chủ quyền nhân dân, vì dân chủ là nhân dân thực hiện quyền lực, nghĩa là chủ quyền thuộc về nhân dân. Nói chính xác hơn, chủ quyền thuộc về nhân dân là nội dung chủ chốt của nguyên tắc dân chủ. Hình mẫu cho việc nâng các quyền con người cơ bản nhất thành quyền dân tộc tự quyết (tức là chủ quyền nhân dân), là Tuyên ngôn độc lập năm 1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và đọc trước Quốc dân ngày 02/9/1945[4].

Vẫn như trước, chủ quyền nhân dân tiếp tục được khẳng định tại Điều 2 Dự thảo bằng cụm từ “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” (ở đây không đi xa bàn về cơ cấu “nền tảng” của nhân dân là ai ở cuối Khoản 2 Điều 2). Quy định Điều 2 Dự thảo không mới so với Điều 2 cũ và mang tính kinh điển, vì hiến pháp nào cũng có quy định tương tự.

Nhưng quy định đã dẫn tại Điều 1 và Điều 2 Dự thảo chỉ mang tính chất tuyên ngôn, nguyên tắc. Tuyên ngôn, nguyên tắc phải được cụ thể hoá trong các quy phạm khác của Hiến pháp; nếu không, tuyên ngôn, nguyên tắc sẽ là vô hiệu.

2) Điều 6 Dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 6 cũ) là sự cụ thể hoá, củng cố bước đầu, quan trọng hai tuyên bố (một cũ và một mới) này. Mới, tiến bộ do ngoài hình thức dân chủ đại diện (Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân) còn có dân chủ trực tiếp, và đặt dân chủ trực tiếp lên trước dân chủ đại diện: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Quy định này “về hình thức” là theo quy định tương ứng của các hiến pháp dân chủ trên thế giới. Nói là “về hình thức” vì Điều 6 Dự thảo mới mà chưa hay, nặng lý luận, chưa rõ ràng và không đủ. Bởi vì:

Một là, phải thấy rằng, Điều 6 Dự thảo là cái mới quan trọng so với Hiến pháp 1959, 1980 và 1992, vì ở đó đều chưa có quy định về dân chủ trực tiếp. Nhưng quy định này chỉ là bước đầu, vì nó không chỉ rõ cụ thể là hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện nào (vì có rất nhiều dạng hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện), dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện ở những việc gì.

Hai là, cái mới này so với các quy định của Hiến pháp 1946, Công ước quốc tế và hiến pháp các nước thì thấy rõ là chỉ nặng lý luận, chưa rõ ràng và không đủ. Bởi lẽ:

Theo Điều 25 (điểm a Khoản 1 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà nước ta đã tham gia, con người có quyền “được tham gia vào việc điều hành chính quyền, hoặc trực tiếp hoặc qua những đại biểu do mình tự do tuyển chọn”.Chữ “đại biểu” ở đây không phải hiểu hẹp là cơ quan đại diện.

Điều 3 Hiến pháp Cộng hòa Pháp 1958 hiện hành quy định đầy đủ hơn, gắn các hình thức thực hiện dân chủ với chủ quyền quốc gia, và trong hình thức dân chủ trực tiếp chỉ quy định trưng cầu dân ý (referendum – biểu quyết toàn dân hay là quyền phúc quyết của nhân dân)[5]:

“Chủ quyền quốc gia thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện chủ quyền của mình thông qua những người đại diện của mình hoặc trực tiếp bằng trưng cần dân ý.

Không một nhóm người hay cá nhân nào có thể tiếm đoạt quyền thực hiện chủ quyền quốc gia”.

Các khoản sau điều này còn củng cố bằng quy định về các hình thức và nguyên tắc bầu cử, các điều kiện và sự bình đẳng của các cử tri, bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới.

Đầy đủ nhất, tập trung nhất là quy định của Điều 3 Hiến pháp Liên bang Nga 1993:  

“1. Đại diện cho chủ quyền và nguồn gốc duy nhất của quyền lực ở Liên bang Nga là nhân dân Nga đa sắc tộc.

2. Nhân dân thực hiện quyền lực của mình một cách trực tiếp, cũng như thông qua các cơ quan quyền lực nhà nước và cơ quan tự quản địa phương.

3. Sự thể hiện trực tiếp cao nhất quyền lực của nhân dân là trưng cầu ý dân và bầu cử tự do.

4. Không một ai có thể tiếm dụng quyền lực ở Liên bang Nga. Việc chiếm đoạt quyền lực hoặc chiếm dụng các quyền hạn bị truy tố theo luật liên bang”.

Cần lưu ý rằng, “các cơ quan quyền lực nhà nước” trong Hiến pháp Liên bang Nga 1993 được hiểu không như ở Việt Nam chỉ bao gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, mà bao gồm mọi cơ quan nhà nước thực thi công quyền (các cơ quan dân cử, cơ quan hành chính, toà án và viện kiểm sát), riêng các “cơ quan tự quản địa phương” không được quan niệm là cơ quan nhà nước nên được gọi tên tách riêng.

Những chữ in nghiêng trong các trích dẫn trên cho thấy, trong các văn kiện nêu trên, chủ quyền duy nhất trong nhà nước là thuộc về nhân dân, chủ quyền duy nhất đó được bảo đảm bằng trưng cầu dân ý và không một ai, một nhóm người nào có thể chiếm đoạt, có thể tiếm dụng quyền chủ quyền này và nếu có sự chiếm đoạt, tiếm dụng chủ quyền nhân dân thì sẽ bị trừng trị theo luật. Nên nhớ là theo “luật” chứ không phải là “pháp luật”, vì luật do Quốc hội – cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân ban hành mới thể hiện đầy đủ ý chí của nhân dân, còn pháp luật thì bao gồm cả quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã. Và phải chỉ rõ là “referendum” (trưng cầu dân ý) – hình thức thực hiện chủ quyền trực tiếp và cao nhất của nhân dân (như Khoản 3 Điều 3 Hiến pháp Liên bang Nga), chứ không nói vu vơ về “hình thức dân chủ trực tiếp” và “dân chủ đại diện” như Điều 6 Dự thảo để rồi những quy định sau lại tự phủ nhận quyền dân chủ trực tiếp. Tuyên bố chủ quyền nhân dân như thế mới rõ ràng, mạnh mẽ và chắc chắn.

Cần nhớ rằng Hiến pháp 1946 cũng không có “quy định mang tính lý luận” này, nhưng hình thức dân chủ trực tiếp lại được thể hiện rất mạnh mẽ tại các điều thứ 21, 32 và 70 về quyền phúc quyết, các vấn đề cần đưa nhân dân phúc quyết, khẳng định Nghị viện sẽ ban hành Luật về phúc quyết của nhân dân và trình tự Nghị viện đưa vấn đề ra nhân dân phúc quyết, Dự thảo Hiến pháp và việc sửa đổi Hiến pháp phải được nhân dân phúc quyết[6]. Chúng ta không thể quên rằng những quy định này đặt trong bối cảnh một hiến pháp chỉ với 70 điều và rất gọn gàng, ít chữ.

Tóm lại, Điều 6 Dự thảo nặng lý luận, chưa rõ ràng và không đủ, nên sửa thành: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước một cách trực tiếp bằng biểu quyết toàn dân, hoặc thông qua những đại diện do dân bầu”. Ngắn gọn hơn, nhưng lại rõ, thiết thực, mạnh và đầy đủ hơn.

Ba là, các hiến pháp tiên tiến trên thế giới không giới hạn ở quy định này (Điều 6 Dự thảo), kể cả Hiến pháp 1946 của Việt Nam ta, mà những việc gì quan trọng nhất dân cần làm và có thể làm được thì đều ghi nhận nhân dân trực tiếp quyết định bằng trưng cầu dân ý, những việc khác thì giao cho các cơ quan nhà nước, trước hết là những cơ quan do dân bầu ra. Việc đầu tiên dân cần thực hiện trực tiếp bằng trưng cầu dân ý mà mọi Hiến pháp dân chủ đều nói tới là ban hành, sửa đổi hiến pháp, hay nói khái quát như Hiến pháp 1946 thì đó là “những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia” (Điều thứ 21 và Điều thứ 32).

2. Quyền ban hành, sửa đổi Hiến pháp

Hiến pháp là bản khế ước của nhân dân, nên để chủ quyền của nhân dân là thực sự thì quyền ban hành Hiến pháp phải thuộc về nhân dân. Lời nói đầu của Dự thảo có cụm từ mà Lời nói đầu Hiến pháp hiện hành không có là “thực hiện chủ quyền nhân dân, Hiến pháp này tiếp tục khẳng định ý chí của nhân dân”. Đây là một điểm mới. Nhưng điểm mới này bị triệt tiêu, do cũng tại ngay Lời nói đầu ở câu kết thì chủ quyền và ý chí của nhân dân không phải thể hiện ở quyền ban hành Hiến pháp, mà chỉ là “xây dựng và thi hành Hiến pháp”. Khái niệm “xây dựng Hiến pháp” rất rộng nên không rõ ràng, “góp ý cho Dự thảo”, “ban hành Hiến pháp” đều nằm trong phạm trù này. Hiến pháp không thể viết những từ không rõ ràng. Vì vậy, để phù hợp với thời đại dân chủ ngày nay, đã đến lúc cần tuyên bố rõ ràng trong Lời nói đầu: Nhân dân ban hành Hiến pháp, ví dụ, viết: “Nhân dân Việt Nam trịnh trọng tuyên bố ban hành bản Hiến pháp này nhằm …”. Theo đó, cách viết về Cương lĩnh của Đảng cũng phải mềm, sao cho thể hiện được chủ quyền nhân dân. Đoạn “thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện chủ quyền nhân dân, Hiến pháp này tiếp tục khẳng định ý chí của nhân dân” trong Lời nói đầu là đầy mâu thuẫn, vì đã “thể chế hóa Cương lĩnh” thì đâu còn “chủ quyền nhân dân”, “khẳng định ý chí của nhân dân”. Tốt hơn, để vẫn thể hiện có sự lãnh đạo của Đảng mà vẫn có chủ quyền nhân dân thật sự, thì nên bỏ mấy chữ “thể chế hóa” mà thay bằng “dưới ánh sáng” hay “theo tư tưởng chỉ đạo”, hoặc “theo đường lối chỉ đạo”.

Vì vậy, kết hợp với ý trên, đoạn này có thể viết thành: “Nhân dân Việt Nam, dưới ánh sáng (hay “theo tư tưởng/đường lối chỉ đạo”) của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện chủ quyền nhân dân, trịnh trọng tuyên bố ban hành bản Hiến pháp này nhằm tiếp tục khẳng định ý chí của nhân dân”. Như vậy là có thể chấp nhận được dưới góc độ quan niệm hiện đại về chủ quyền nhân dân mà vẫn bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng.

Vẫn theo tư duy cũ là quyền ban hành Hiến pháp thuộc về Quốc hội, nên Khoản 1 Điều 75 Dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 84 cũ) quy định: Quốc hội “Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp”. Cũng phải ghi nhận rằng, so với quy định tại Điều 83 cũ: “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp” thì quy định này đã bỏ chữ “duy nhất”, nên tiến bộ hơn một chút. Là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp là chính xác, nhưng là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến thì đã quá lỗi thời. Nhưng chỉ bỏ chữ “duy nhất”, có nghĩa rằng, có thể còn chủ thể khác cũng “làm Hiến pháp”. Nhưng quy định này không rõ, “lấp lửng”. Lại thêm chữ “làm Hiến pháp”[7]. Hiến pháp ta được viết kiểu “dân gian”, không rõ ràng. Chữ “làm Hiến pháp” ở đây còn “nôm na” hơn là viết “xây dựng Hiến pháp” ở Lời nói đầu. Theo ngữ nghĩa ở câu mở đầu Điều cuối Dự thảo – Điều 124 (sửa đổi, bổ sung Điều 147 cũ) “Việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp được quy định như sau” thì “làm Hiến pháp” chính là “ban hành Hiến pháp”. Vậy sao không viết “ban hành Hiến pháp” cho rõ, lại pháp lý và nghiêm túc hơn. Phải chăng vì đây là “điều khó nói” nên ở Lời nói đầu của Dự thảo thì dùng các chữ “xây dựng Hiến pháp”, còn ở Điều 75 và 124 Dự thảo là “làm Hiến pháp” – một cách viết “dân gian”, “nôm” không còn phù hợp với ngày nay, cả về mặt ngôn ngữ hiến pháp và tính pháp lý của hiến pháp. Theo nguyên tắc pháp lý, khi đã tuyên bố chủ quyền của nhân dân thì đáng ra phải tuyên bố quyền ban hành Hiến pháp phải thuộc về nhân dân, tuy Quốc dân có thể trao cho Quốc hội ban hành và Quốc dân sẽ phúc quyết như kiểu Hiến pháp 1946.

Đến Khoản 4 Điều 124 (sửa đổi, bổ sung Điều 147 cũ): “Dự thảo Hiến pháp được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định” thì mọi việc mới rõ ràng: quyền ban hành Hiến pháp thuộc về Quốc hội; việc có cho tổ chức trưng cầu ý dân về Hiến pháp hay không là do ý chí của Quốc hội, Dự thảo không đưa ra căn cứ nào. Vậy, phải chăng đã đặt Quốc hội đứng trên nhân dân? Một hiến pháp dân chủ thực sự thì bên cạnh quy định tuyên bố/tuyên ngôn phải có quy định cơ chế hiện thực hoá tuyên bố/tuyên ngôn đó. Nhưng Khoản 4 Điều 124 Dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 147 cũ), cùng với Khoản 1 Điều 75 Dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 84 cũ) đã xoá mờ tuyên ngôn về nguyên tắc dân chủ và chủ quyền nhân dân tuyên bố tại Lời nói đầu, Điều 1 và Điều 2 Dự thảo, trái với tinh thần một hiến pháp dân chủ của Nhà nước pháp quyền.

3. Các quy định bổ sung và cụ thể hoá

Theo Điều 3 (sửa đổi, bổ sung Điều 3 cũ) của Dự thảo, “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân”. Các quy định “Nhà nước bảo đảm”, “Nhà nước phát huy” rõ ràng vẫn theo tư duy cũ – tư duy Nhà nước là chủ thể ban phát. Nếu đúng quan điểm chủ quyền thuộc về nhân dân thì phải quy định: “Chủ quyền trong nhà nước chỉ duy nhất thuộc về nhân dân. Nhà nước có trách nhiệm thực hiện mọi biện pháp để bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân”. Nghĩa là Nhà nước là chủ thể có trách nhiệm, bị ràng buộc trách nhiệm thực hiện, chứ không phải là chủ thể ban phát, bảo đảm, phát huy, hô hào, giáo dục,…

Tiếp tục cụ thể hoá Điều 6 về các hình thức thực hiện dân chủ, Điều 28 Dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 54 cũ) ghi nhận quyền bầu cử và quyền ứng cử của công dân. Điều 29 Dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 53 cũ) quy định “công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của địa phương và cả nước”. Nhưng nội dung tại Khoản 2 Điều này: “Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội” cũng là chưa đủ, mà phải là “Nhà nước có trách nhiệm thực hiện mọi biện pháp cần thiết để bảo đảm quyền của công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội”.

Điểm đáng ghi nhận là Dự thảo đã tách quyền của công dân “biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” từ Điều 53 cũ thành Điều 30 riêng, bên cạnh Điều 29 của Dự thảoTách thành điều riêng nhưng cách quy định không thay đổi, không đổi mới, thể hiện chưa mạnh dạn, đang “e dè” trong tiếp cận quyền hạn dân chủ trực tiếp quan trọng số một này của công dân. Vẫn là “Công dân có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” thì ý chí vẫn là của Nhà nước, mà không phải là ý chí của Nhân dân;khi nào tổ chức trưng cầu ý dân là quyền chủ quan của Nhà nước, do không quy định căn cứ khi nào thì Nhà nước phải tổ chức trưng cầu ý dân. Tức là nội dung không thay đổi, tuy hình thức có sửa đổi, nói cách khác, chỉ là “bình mới, rượu cũ”. Và điều đó được “chốt lại” bằng Khoản 4 Điều 124 (sửa đổi, bổ sung Điều 147 cũ) của Dự thảo đã dẫn trênPhân tích này càng rõ hơn nếu so sánh với các quy định của Hiến pháp 1946 như đã nói. Nếu đúng lô gic của nguyên tắc chủ quyền duy nhất thuộc về nhân dân thì Hiến pháp được Quốc hội thông qua (bao gồm việc sửa đổi) phải được đưa ra toàn dân biểu quyết thì mới có hiệu lực. Đó là tinh thần của Hiến pháp 1946.

Các quy định tiếp theo về “trưng cầu ý dân” càng khẳng định cho kết luận này: Điều 75 Dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 84 cũ) quy định Quốc hội có quyền “Quyết định trưng cầu ý dân” (Khoản 15). Và theo Điều 79 Dự thảo (sửa đổi, bổ sung Điều 91 cũ), thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội có quyền “Tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội” (Khoản 11). Rõ ràng, không hề có chữ nào về loại vấn đề, căn cứ, trình tự và thậm chí cũng không chỉ rõ có Luật về trưng cầu ý dân.

Tóm lại, thiết nghĩ, trong Hiến pháp sửa đổi lần này, nguyên tắc chủ quyền nhân dân cần được ghi nhận thật trang trọng, rõ ràng, mạch lạc phù hợp với trình độ pháp lý hiện đại và yêu cầu dân chủ, bởi vì:

Một là, đó là sự kế thừa những quy định của Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta – Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo xây dựng. Tuy đã gần 67 năm trôi qua kể từ ngày Quốc hội lập hiến[8] của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành Hiến pháp này, một Hiến pháp ít lời nhưng ghi nhận vô cùng trang trọng nguyên tắc chủ quyền nhân dân với quyền phúc quyết của nhân dân rất pháp lý, rõ ràng, mạnh mẽ, thì kinh nghiệm trên càng trở nên vô cùng thời sự.

Hai là, trong bối cảnh thế giới hiện đại, khi dân chủ đã là trào lưu và yêu cầu dân chủ trong nước đã trở thành bức thiết, nhất là từ khi bước sang thế kỷ 21, thì không thể né tránh việc ghi nhận nguyên tắc chủ quyền nhân dân một cách pháp lý, rõ ràng, mạnh mẽ với quyền thực hiện biểu quyết toàn dân (tức là quyền trưng cầu dân ý – quyền phúc quyết của nhân dân)[9].

Ba là, kinh nghiệm của Hiến pháp 1946 và các hiến pháp dân chủ trên thế giới càng vô cùng thời sự, bởi để củng cố lòng tin đã bị xói mòn ở một bộ phận không nhỏ dân chúng thì không có con đường nào khác, thậm chí việc ghi nhận và thực hiện trên thực tế chủ quyền nhân dân còn là giải pháp duy nhất.

Có như vậy, những lời của Ông Vũ Đình Hoè, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp của Nhà nước Việt Nam thời còn non trẻ, nói khi ban hành Hiến pháp 1946, ngày nay mới trở thành hiện thực: “Hiến pháp “dân định”, chứ không phải Hiến pháp “khâm định”; không phải ai “ban” cho, mà do dân giành lấy. Hiến pháp do Quốc dân đại hội, Quốc hội ban hành, một Quốc hội đặc biệt – Quốc hội lập hiến – chỉ sửa đổi Hiến pháp thôi thì Nghị viện nhân dân còn phải hội đủ phiếu thuận của ít nhất 2/3 số đại biểu có mặt (theo Điều 70 – Hiến pháp 1946). Đồng thời trước khi ban bố, Nghị viện phải tổ chức cho toàn dân “phúc quyết”. Vì lập Hiến pháp và sửa Hiến pháp là thuộc “những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia” (theo Điều 32)[10]. Do Hiến pháp năm 1946 (thông qua ngày 09/11/1946) chưa được đưa ra nhân dân phúc quyết vì hoàn cảnh chiến tranh, nên về nguyên tắc, theo quy định tại Điều thứ 21, tuy rằng Hiến pháp 1946 có hiệu lực thực tế, nhưng chưa có hiệu lực pháp lý. Vì vậy, có thể nói rằng, hạt giống dân chủ – chủ quyền nhân dân được ươm mầm từ Hiến pháp 1946, trải qua gần 67 năm, đến Hiến pháp sửa đổi lần này, sẽ đơm hoa, kết trái./.

 

 

 


[1] Trong một số phát biểu, cả trên các phương tiện truyền thông, có nhầm lẫn rằng Hiến pháp là bản khế ước giữa Nhân dân và Nhà nước. Nói như vậy thì chủ quyền không chỉ của Nhân dân mà cả của Nhà nước. Đúng ra, nguồn gốc duy nhất của quyền lực nhà nước là Nhân dân nên chủ quyền chỉ thuộc về Nhân dân và trong một số lĩnh vực Nhân dân trao quyền cho Nhà nước làm đại diện. Chỉ “một số lĩnh vực” thôi vì nếu trao quyền hết như Điều 6 Hiến pháp hiện hành thì Nhân dân không còn gì để trực tiếp thực hiện. Mà Điều 6 Hiến pháp hiện hành quy định “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân”cũng không đúng cả với thực tế và với lý luận về Hiến pháp, cả Hiến pháp XHCN.

[2] Xem: Nguyễn Cửu Việt, Bàn thêm về vấn đề sửa đổi Hiến pháp 1992 nhìn từ nguyên tắc chủ quyền nhân dân. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 18 (226), tháng 9/2012.

[3] Gọi là “Dự thảo” vì đây là Dự thảo chính thức lần thứ 2. Dự thảo chính thức lần thứ 1 là bản trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp tháng 11/2012.

[4] Đoạn mở đầu của Tuyên ngôn Độc lập đã dẫn những “lời bất hủ” trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và “những lẽ phải không ai chối cãi được” trong bản Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Từ quyền con người cơ bản, chủ quyền nhân dân được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành quyền dân tộc tự quyết: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Xem bài của tác giả: Bàn thêm về vấn đề sửa đổi Hiến pháp 1992 nhìn từ nguyên tắc chủ quyền nhân dân, đã dẫn.

[5] Cần lưu ý rằng, các Hiến pháp Việt Nam quy định không giống nhau về khái niệm này. Hiến pháp 1946 viết là “quyền phúc quyết”, “nhân dân phúc quyết”, “toàn dân phúc quyết” (các điều thứ 21, 32, 70). Hiến pháp 1959 (Khoản 5 Điều 53) và Hiến pháp 1980 (Khoản 6 Điều 100) đều viết là “trưng cầu ý kiến nhân dân”. Hiến pháp 1992 (Khoản14 Điều 84 lại viết là “trưng cầu ý dân”. Nhưng thuật ngữ tiếng Việt “trưng cầu dân ý” hay “trưng cầu ý dân” theo ngữ nghĩa được hiểu rất rộng, bao gồm cả việc “lấy ý kiến nhân dân” như đang diễn ra với Dự thảo này, cũng có thể hiểu bao gồm cả referendum – biểu quyết toàn dân (như Điều 53 Hiến pháp 1992 hay Điều 30 Dự thảo) hay phúc quyết của nhân dân (Hiến pháp 1946). Trong bài này, “trưng cầu ý dân” chỉ được sử dụng với nghĩa là referendum – biểu quyết toàn dân. Trong các hiến pháp nước ngoài, khi sử dụng thuật ngữ referendum thì rất rõ đấy chỉ là biểu quyết toàn dân.

[6] Xem: Hiến pháp 1946, Điều thứ 21:

Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia, theo Điều thứ 32 và 70.

Điều thứ 32

Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý.

Cách thức phúc quyết sẽ do luật định.

Điều thứ 70:

Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây:

a) Do hai phần ba tổng số nghị viên yêu cầu.

b) Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi.

c) Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết.

[7] Chữ “làm Hiến pháp”, “làm luật”, bắt đầu có từ Hiến pháp 1959 (Điều 50), rồi đến Hiến pháp 1980 (Điều 83), 1992 (Điều 84). Hiến pháp 1946 không có chữ “làm” mà là “đặt ra các pháp luật” (Điều thứ 23). Lúc này, thuật ngữ “pháp luật” được hiểu là luật. Rõ ràng, “đặt ra” hay “ban hành” pháp lý hơn, chính xác hơn, “nghiêm túc” hơn.

[8] Đây là quan niệm của các nhà lập hiến của Hiến pháp 1946, vì trong Lời nói đầu Hiến pháp 1946 dùng khái niệm “Quốc hội” (“Được quốc dân giao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Quốc hội nhận thấy rằng, …”), nhưng trong nội dung, từ Chương III trở đi lại chỉ dùng khái niệm “nghị viện”. Tức là Quốc hội soạn thảo và thông qua “Dự thảo Hiến pháp”, còn “Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” (Điều thứ 22) và “do công dân Việt Nam bầu ra” (Điều thứ 24)tức là được thành lập theo Hiến pháp màQuốc hội này đã soạn thảo và thông qua Dự thảo.

[9] Theo thống kê các hiến pháp hiện hành của một webside ở Liên bang Nga, tính từ đầu thế kỷ 21 đến tháng 7/2011, toàn thế giới đã ban hành 25 hiến pháp mới, trong đó 14 bản được thông qua bằng trưng cầu dân ý. Xem: Список действующих конституций

http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%A1%D0%BF%D0%B8%D1%81%D0%BE%D0%BA_%D0%B4%D0%B5%D0%B9%D1%81%D1%82%D0%B2%D1%83%D1%8E%D1%89%D0%B8%D1%85_%D0%BA%D0%BE%D0%BD%D1%81%D1%82%D0%B8%D1%82%D1%83%D1%86%D0%B8%D0%B9

[10] Vũ Đình Hoè, “Nội dung về một nhà nước của dân, do dân, vì dân, theo tư tưởng Hồ Chí Minh về bộ máy hành pháp” trong “Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật”, Kỷ yếu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước KX-02-03, Bộ Tư pháp, Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý, Hà Nội, 1993, tr. 184-185.

Nguồn : http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/nguyen-tac-chu-quyen-nhan-dan-trong-du-thao-hien-phap-sua-111oi-nam-2013-co-111oi-moi-nhung-nua-voi-va-mau-thuan

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s