Phạt xe không chính chủ: ‘chân voi’ hay ‘cột đình’

Standard

Điều đáng nói không phải ở chỗ một văn bản qui phạm pháp luật có sự sai sót hay không mà ở thái độ tiếp thu góp ý, phê bình và cách khắc phục.

>> Bộ trưởng Thăng và ‘chiếc áo đường sắt’

>> Xe không chính chủ: Xử phạt là… phạm luật

Theo quy định nào?

Trước hết, tác giả bài viết “Xe không chính chủ: xử phat là …phạm luật(sau đây xin gọi là Tác giả) xin cám ơn độc giả Nguyễn Thành Lập đã đọc và có ý kiến phản biện bằng bài viết Phạt xe không chính chủ: có thật phạm luật? để làm cho vấn đề thêm sáng tỏ và với mục đích chung của chúng ta là cùng nhau góp một phần nhỏ bé vào việc thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và hoàn thiện chế độ nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân ở nước ta.

Trong bài phản biện của mình, độc giả Nguyễn Thành Lập cho rằng khoản 3 Điều 53 Luật giao thông đường bộ là sự qui định bắt buộc người dân phải đăng ký xe cơ giới khi xe được mua bán, cho, tặng. Và từ cách hiểu này, độc giả Nguyễn Thành Lập cho rằng Tác giả “vớ chân voi đã tưởng cột đình”nên đã chụp mũ phạm luật cho Nghị định 34/2010/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 71/2012/NĐ-CP).

Vậy, vấn đề ở đây là khoản 3 Điều 53 Luật giao thông đường bộ qui định cái gì?

Khoản 3 Điều 53 này viết: “Xe cơ giới phải đăng ký và gắn biển số do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp“.

Nếu chỉ nhìn vào cái khoản 3 Điều 53 của Luật giao thông đường bộ mà quên mất cái tiêu đề của Điều 53 đó thì sẽ dễ giống như độc giả Nguyễn Thành Lập cho rằng khoản 3 Điều 53 này là qui định bắt buộc người dân phải đăng ký quyền sở hữu khi xe cơ giới được mua bán, cho, tặng, thừa kế.

Tiêu đề của Điều 53 đó là “Điều kiện tham gia giao thông của xe cơ giới”. Với tiêu đề này thì thật rõ ràng rằng qui định tại khoản 3 Điều này rằng “Xe cơ giới phải đăng ký và gắn biển số do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp” là điều kiện, hay nói cách khác là một trong những điều kiện, để xe cơ giới được tham gia giao thông.

Nhưng Điều 53 này nói chung, và khoản 3 của Điều 53 này nói riêng, rõ ràng là không thể hiện cái điều là khi xe cơ giới được mua bán, cho, tặng thì xe phải được đăng ký quyền sở hữu (cả trước và sau khi mua bán, cho, tặng), hay nói khác là, với nội dung qui định này thì người dân đăng ký quyền sở hữu xe hay không là tùy ở người dân, trừ khi dân muốn cho xe tham gia giao thông thì xe phải được đăng ký quyền sở hữu.

Hơn nữa, điều khoản này cũng chỉ qui định là “Xe cơ giới phải đăng ký” chứ không qui định rằng xe cơ giới phải được đăng ký lại nếu thay đổi chủ sở hữu (tức khác so với Luật giao thông đường thủy nội địa mà Tác giả đã nêu trong bài viết của mình), tức là xe chỉ cần có đăng ký là được, là đủ điều kiện về đăng ký để xe tham gia giao thông.

Nội dung qui định tại khoản 3 Điều 53 này được thể hiện lại một lần nữa bằng việc được bao hàm trong nội dung qui định tại khoản 2 Điều 58 Luật giao thông đường bộ, ở chỗ muốn có bản “đăng ký xe” để tài xế mang theo bên mình thì trước tiên xe phải được đăng ký.

Nhưng thật rõ ràng là cả hai điều khoản ấy đều không thể hiện qui định xe phải được đăng ký quyền sở hữu khi xe được mua bán, cho, tặng, cũng như khi xe đã có đăng ký rồi lại được mua bán, cho, tặng, thừa kế.

Nếu người dân cho (hay đưa) xe không có đăng ký quyền sở hữu, tức không có bản “đăng ký xe“, tham gia giao thông là người dân vi phạm Luật giao thông đường bộ. Nhưng hành vi không đăng ký xe khi xe được mua bán, cho, tặng không đồng nghĩa là hành vi cho xe không (hay không có) đăng ký tham gia giao thông. Chẳng hạn, người dân mua xe để bán lại, để trưng bày, để cho, tặng… mà không để tham gia giao thông hoặc mua xe để tham gia giao thông nhưng chưa cho xe tham gia giao thông thì rõ ràng rằng khoản 3 Điều 53 này không bắt buộc người dân phải đăng ký quyền sở hữu, (cũng như không phải có biển số xe). Khi nào cho xe tham gia giao thông thì khi đó xe mới phải đăng ký. Nên thực ra điều qui định này chỉ là cho xe mới được sản xuất ra hay mới được nhập khẩu.

Do đó, lẽ ra Nghị định 34 (được sửa đổi bởi Nghị định 71) qui định xử phạt đối với hành vi cho xe (hay đưa xe) không đăng ký quyền sở hữu, hay không có bản “đăng ký xe” (xin lưu ý, không có bản ‘đăng ký xe” là khác với có nhưng bị thất lạc, trong trường hợp này, hồ sơ lưu trữ của Công an sẽ cho biết xe có đăng ký hay không) tham gia giao thông, nhưng Nghị định của chính phủ lại qui định xử phạt hành vi “không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo qui định“.

Vậy, câu hỏi là không chuyển quyền sở hữu “theo qui định” mà Nghị định của Chính phủ nói đó là theo “qui định” nào?

Tác giả không tìm thấy qui định nào trong luật do quốc hội ban hành, kể cả trong khoản 3 Điều 53 Luật giao thông đường bộ như đã phân tích ở trên bắt buộc người dân phải đăng ký quyền sở hữu khi xe được mua bán, cho, tặng.

Vậy, chỉ còn là qui định tại Điều 6 Thông tư số 36/2010/TT-BCA của Bộ Công an. Mà, qui định này là không đúng thẩm quyền nên không được Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật coi là một qui định của pháp luật như Tác giả đã phân tích trong bài viết của mình.

 

Ảnh minh họa

 

Phạt ai, người mua hay người bán?

Tiện đây, xin đề cập thêm về một số nét về câu chữ, cách diễn đạt trong Thông tư 36 của Bộ Công an và Nghị định 34 cũng như Nghị định 71 của Chính phủ.

Khoản 3 Điều 6 Thông tư 36/2010/TT-BCA qui định: “Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm giấy tờ mua bán, cho, tặng, thừa kế xe, người mua hoặc bán xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục sang tên, di chuyển, thay đổi đăng ký xe” (xin nhấn mạnh từ “hoặc” trong qui định này).

Điều này có nghĩa là chỉ một trong hai người, hoặc người mua, hoặc người bán, có nghĩa vụ phải thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu cho xe, còn người kia thì không. Nhưng người nào trong hai người đó, điều khoản này lại không qui định. Do đó, nếu như có sự “không chuyển quyền sở hữu theo qui định“, thì cơ quan chức năng sẽ  căn cứ vào qui định nào của pháp luật để phạt người mua mà không phải là phạt người bán, hay ngược lại, phạt người bán mà không phải là phạt người mua?

Đó là chưa kể, điều khoản này trong khi ngoài đề cập trường hợp mua bán còn để cập cả  các trường hợp cho, tặng, thừa kế. Nhưng, qui định người có nghĩa vụ đăng ký thì mới chỉ qui định cho trường hợp mua bán, còn trường hợp cho, tặng, thừa kế thì không qui định ai là người có nghĩa vụ phải thực hiện đăng ký, vì người mua, người bán không đồng nghĩa là người cho, người tặng, người cho thừa kế. Vậy, sẽ phạt ai đây khi có sự “không chuyển quyền sở hữu theo qui định” trong trường hợp cho, tặng, thừa kế?

Nghị định của chính phủ qui định xử phạt đối với “chủ phương tiện” “không chuyển quyền sở hữu theo qui định“. Vậy, “chủ phương tiện” nói ở đây là ai, là người mua, người được cho, được tặng hay là người bán, người cho, tặng?

Vì, điều khoản này là nói về việc đăng ký xe khi xe được mua, bán, cho, tặng, nên trong cùng một hành vi mua bán, cho, tặng thì người bán, người cho, tặng là “chủ phương tiện” nếu xét về phương diện trước khi hành vi mua bán, cho, tặng được thực hiện xong, còn người mua, người được cho, được tặng là “chủ phương tiện” nếu xét về phương diện sau khi hành vi mua bán, cho, tặng được thực hiện xong.

Hỏi cách khác, phạt người bán, người cho, tặng hay phạt người mua, người được cho, được tặng nếu như có sự “không chuyển quyền sở hữu theo qui định“?  Thật rõ ràng rằng Nghị định của Chính phủ không cho câu trả lời.

Và nếu cứ hiểu “chủ phương tiện” nói ở đây như độc giả Nguyễn
Thành Lập đã hiểu là chủ hiện tại, tức người mua, người được cho, tặng thì xét về phương diện này, việc Nghị định qui định xử phạt đối với người này cũng là trái với Pháp lệnh và Luật về xử phạt vi phạm hành chính về chủ thể chịu phạt.

Vì “qui định” để làm căn cứ cho việc đánh giá hành vi của dân là có vi phạm “qui định” hay không là khoản 3 Điều 6 Thông tư 36 của Bộ Công an như đã phân tích ở trên. Nhưng điều khoản này lại không qui định rõ ai, tức người mua hay người bán, người được cho tặng hay người cho, tặng có nghĩa vụ phải thực hiện việc đăng ký như đã trình bày ở trên, hay nói cách khác là không thể hiện được người nào là người được coi là có hành vi vi phạm qui định của pháp luật khi có sự “không chuyển quyền sở hữu theo qui định“.

Ngoài ra, cụm từ “chủ phương tiện” trong điều khoản này của Nghị định  của Chính phủ là để chỉ “chủ phương tiện” trong tất cả các trường hợp chuyển quyền sở hữu: mua bán, cho, tặng, thừa kế. Trong khi đó, “qui định” để làm căn cứ cho việc xác định chủ thể có hành vi vi phạm “qui định” hay không, tức để xác định chủ thể chịu  phạt- là khoản 3 Điều 6 Thông tư 36 của Bộ Công an- thì chỉ đề cập “chủ phương tiện” trong trường hợp mua bán, tức chỉ đề cập người mua và người bán như đã trình bày ở trên. Nghĩa là Nghị định của Chính phủ vênh với Thông tư của Bộ Công an về chủ thể chịu phạt. thành thử, Nghi định của Chính phủ là sai về chủ thể chịu phạt

Tác giả xin được đề cập rộng thêm một chút về vấn đề đăng ký quyền sở hữu đối với động sản, trong đó, xe cơ giới là một loại động sản.

Tại Điều 167 Bộ luật dân sự có qui định: “Quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có qui định khác“. Tác giả đã nêu một số “trường hợp pháp luật có qui định khác” trong bài viết của mình.

Tác giả một lần nữa xin nhấn mạnh rằng, theo qui định của Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật mà Tác giả đã đề cập, thì một trường hợp chỉ được Luật này coi là “trường hợp pháp luật có qui định khác” khi mà qui định đó được ban hành đúng thầm quyền.

Ai có thẩm quyền

Về ‘thẩm quyền’ của một cơ quan trong bộ máy Nhà nước ta hiện nay, theo Hiến pháp hiện hành, cũng như theo Dự thảo sửa đổi Hiến pháp hiện hành đang được Quốc hội lấy ý kiến góp ý của nhân dân, thì chỉ có Quốc hội mới có quyền tự cho mình quyền hành còn các cơ quan khác trong bộ máy Nhà nước ta, trong đó có Chính phủ, Bộ, Cơ quan ngang Bộ, không có quyền tự cho mình quyền hành, mà phải do Quốc hội qui định, ngoài những quyền do Hiến pháp qui định. (Một khi Hiến pháp do Quốc hội thông qua thì có nghĩa là mọi quyền và mọi nghĩa vụ của các chủ thể trong xã hội, trong đó có các cơ quan Nhà nước, bao gồm cả Quốc hội, là do Quốc hội quyết định).

Vậy, việc Bộ giao thông vận tải đề xuất bỏ qui định xử phạt hành vi không chuyển quyền sở hữu theo qui định đối với xe cơ giới mà một số báo đã đăng không chỉ là một sự phù hợp với thực tiễn, với mong muốn của nhân dân như giải trình của Bộ giao thông vận tải mà còn là một sự sửa sai về phương diện pháp lý trong qui định của Chính phủ.

Qui định bắt buộc người dân phải đăng ký quyền sở hữu tại Điều 6 Thông tư 36/2010/TT-BCA của Bộ Công an là qui định trái thẩm quyền- và đây chính là nguyên nhân của rắc rối- nên theo Luật ban hành văn bản qui phạm pháp luật, qui định này phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, đình chỉ việc thi hành, hủy bỏ hoặc bãi bỏ.

Thiết nghĩ, để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của người dân thì các cơ quan Nhà nước, nhất là các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản qui phạm pháp luật, phải là những tấm gương về sự tôn trọng pháp luật.

Điều muốn nói hơn không phải ở chỗ một văn bản qui phạm pháp luật nào đó có sự sai sót hay không, vì con người không phải là thánh, mà là ở chỗ thái độ tiếp thu góp ý, phê bình và cách khắc phục. Và, thái độ này cũng là một chuẩn mực để đánh giá nhân cách “chí công, vô tư” trong thi hành công vụ của một công chức Nhà nước.

Pháp luật thì vẫn là pháp luật. Mọi hành vi vi phạm pháp luật phải được xem xét, xử lý một cách khách quan, chính xác để vừa đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, vừa để tránh oan, sai cho người dân. Còn nếu việc xem xét này được ví như là chuyện vợ chồng thuyền chài cãi nhau về con cá dưới nước thì khác nào ví những người đang thực thi nhiệm vụ xem xét, xử lý những hành vi vi phạm pháp luật từ mức độ vi phạm hành chính đến mức độ tội phạm là những “vợ chồng thuyền chài cãi nhau“.

Hồ Sỹ Thụy

Tại sao lại có hiện tượng phạm luật trắng trợn này ? Đó là nhờ vào điều 4 và điều 70 hiến pháp.

Điều 4 (sửa đổi, bổ sung Điều 4)
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
2. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.
3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Điều 70 (sửa đổi, bổ sung Điều 45)
Lực lượng vũ trang nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng cộng sản Việt Nam, Tổ quốc và nhân dân, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s