Hiến pháp Cộng hòa Pháp

Standard

HIẾN PHÁP NGÀY 4 THÁNG 10 NĂM 1958 CỦA CỘNG HOÀ PHÁP

Lời nói đầu 
Nhân dân Pháp trịnh trọng tuyên bố thiết tha gắn bó với các quyền con người và các nguyên tắc chủ quyền thuộc về nhân dân như đã được quy định trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1789, được khẳng định và bổ sung trong Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946.

Trên cơ sở các nguyên tắc này và nguyên tắc quyền tự quyết của các dân tộc, Nhà nước Cộng hoà Pháp tạo điều kiện cho các lãnh thổ hải ngoại tự nguyện gia nhập Cộng hoà Pháp, xây dựng các thiết chế mới trên cơ sở lý tưởng chung về tự do, bình đẳng, bác ái và nhằm phát huy dân chủ tại các lãnh thổ đó. 

Điều 1

Nhà nước Pháp là một Nhà nước Cộng hoà thống nhất, phi tôn giáo, dân chủ và xã hội. Mọi công dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật không phân biệt nguồn gốc xuất thân, sắc tộc, tôn giáo. Mọi tín ngưỡng đều được tôn trọng. 

Chương I
Chủ quyền

Điều 2

Ngôn ngữ của nước Cộng hoà Pháp là tiếng Pháp. Quốc kỳ của nước Cộng hoà Pháp là cờ ba màu xanh, trắng, đỏ.
Quốc ca của nước Cộng hoà Pháp là bài “Mác-xây-e”.

Khẩu hiệu của nước Cộng hoà Pháp là Tự do – Bình đẳng – Bác ái.

Nguyên tắc của nước Cộng hoà Pháp là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Điều 3

Chủ quyền quốc gia thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện chủ quyền của mình thông qua đại diện và thông qua con đường trưng cầu ý kiến nhân dân. Không một cá nhân hay nhóm người nào được giành quyền thực hiện chủ quyền quốc gia.

Việc bầu cử có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp theo những điều kiện do Hiến pháp quy định. Bầu cử luôn thực hiện theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng và phiếu kín.

Mọi công dân Pháp đã thành niên, không phân biệt giới tính, được hưởng đầy đủ các quyền dân sự và chính trị đều là cử tri theo các điều kiện do pháp luật quy định.

Pháp luật giành cho phụ nữ và nam giới các điều kiện ngang nhau trong việc ứng cử vào các chức vụ và nhiệm kỳ dân cử.

Điều 4

Các đảng phái và các tổ chức chính trị tranh giành quyền lực qua kết quả bầu cử. Các đảng phái và các tổ chức chính trị được tự do thành lập và hoạt động trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về chủ quyền quốc gia và dân chủ. Các đảng phái và các tổ chức chính trị góp phần vào việc thực hiện nguyên tắc quy định tại khoản cuối, điều 3 theo các điều kiện do pháp luật quy định.

Chương II
Tổng thống

Điều 5

Tổng thống đảm bảo sự tuân thủ Hiến pháp. Bằng vai trò trọng tài, Tổng thống đảm bảo hoạt động bình thường của các cơ quan công quyền, đảm bảo tính liên tục trong hoạt động của Nhà nước. Tổng thống là người đảm bảo cho độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ và tôn trọng các điều ước quốc tế.

Điều 6

Tổng thống được bầu cho nhiệm kỳ 5 năm theo nguyên tắc phổ thông, trực tiếp. Các thể thức áp dụng điều khoản này được quy định trong một đạo luật về tổ chức.

Điều 7

Tổng thống được bầu theo đa số tuyệt đối tổng số phiếu bầu. Nếu sau vòng bỏ phiếu thứ nhất không đạt được đa số tuyệt đối, thì vào ngày chủ nhật thứ hai tiếp sau sẽ tiến hành bỏ phiếu vòng hai. Chỉ hai ứng cử viên giành nhiều phiếu nhất trong vòng một mới được đề cử tham dự vòng hai. Việc bỏ phiếu được tổ chức theo sự triệu tập của Chính phủ.
Việc bầu cử Tổng thống mới phải được tổ chức chậm nhất là 20 ngày, sớm nhất là 50 ngày trước ngày hết nhiệm kỳ của Tổng thống đương nhiệm.

Trong trường hợp Tổng thống khuyết vì bất cứ lý do gì hoặc không thể thực hiện được chức năng của mình, thì các nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng thống, trừ các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại các điều 11 và 12 dưới đây, sẽ tạm thời do Chủ tịch Thượng viện thực hiện ; nếu Chủ tịch thượng viện cũng không thể thực hiện được, thì các nhiệm vụ, quyền hạn đó sẽ do Chính phủ thực hiện. Việc xác nhận tình trạng Tổng thống không thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình thuộc thẩm quyền của Hội đồng Hiến pháp quyết định theo đa số tuyệt đối và trên cơ sở có đề nghị của Chính phủ.

Trong trường hợp khuyết Tổng thống hoặc trong trường hợp có quyết định xác nhận của Hội đồng Hiến pháp về việc Tổng thống vĩnh viễn không thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình, thì việc bỏ phiếu để bầu Tổng thống mới phải được tổ chức, trừ trường hợp bất khả kháng theo sự xác nhận của Hội đồng Hiến pháp, trong thời hạn sớm nhất là 20 ngày, chậm nhất là 35 ngày kể từ ngày bắt đầu khuyết Tổng thống hoặc kể từ ngày có quyết định xác nhận của Hội đồng Hiến pháp về việc Tổng thống vĩnh viễn không thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình.

Trong trường hợp có ứng cử viên đã tuyên bố công khai ra tranh cử Tổng thống trong thời hạn dưới 30 ngày trước ngày hết hạn giới thiệu ứng cử viên mà lại chết hoặc rơi vào tình trạng không thể tham gia tranh cử được nữa trong khoảng thời gian 7 ngày trước ngày hết hạn giới thiệu ứng cử viên, thì Hội đồng Hiến pháp có quyền quyết định hoãn cuộc bầu cử.

Hội đồng Hiến pháp cũng quyết định hoãn cuộc bầu cử trong trường hợp trước khi diễn ra vòng bỏ phiếu thứ nhất mà có ứng cử viên chết hoặc không thể tham gia tranh cử được nữa.

Trong trường hợp một trong hai ứng cử viên có ưu thế nhất trong vòng đầu chết hoặc rơi vào tình trạng không thể tranh cử được nữa mà trước đó người này lại chưa tuyên bố rút khỏi cuộc bầu cử, thì Hội đồng Hiến pháp có quyền quyết định tổ chức lại một lần nữa toàn bộ cuộc bầu cử ; Hội đồng Hiến pháp cũng có quyền quyết định như vậy trong trường hợp một trong hai ứng cử viên còn lại tranh cử vòng bỏ phiếu thứ hai chết hoặc rơi vào tình trạng không thể tranh cử được nữa.

Hội đồng Hiến pháp tham gia giải quyết các vấn đề về bầu cử Tổng thống theo các điều kiện quy định tại khoản 2, điều 61 dưới đây hoặc theo các điều kiện quy định trong đạo luật về tổ chức nêu tại điều 6 trên đây.

Hội đồng Hiến pháp có quyền kéo dài thêm các thời hạn quy định tại khoản 3 và khoản 5, điều này, nhưng việc bỏ phiếu phải được tiến hành chậm nhất là 35 ngày kể từ ngày có quyết định của Hội đồng Hiến pháp. Nếu việc áp dụng các quy định tại khoản này làm hoãn cuộc bầu cử cho đến sau ngày hết nhiệm kỳ của Tổng thống đương nhiệm, thì Tổng thống đương nhiệm sẽ tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình cho đến ngày bầu được người kế nhiệm.
Các quy định tại điều 49, 50 và 89 của Hiến pháp này không được áp dụng cho thời gian khuyết Tổng thống cũng như cho thời gian từ khi có quyết định xác nhận việc Tổng thống vĩnh viễn không thể thực hiện được chức năng, nhiệm vụ đến khi bầu được người kế nhiệm.

Điều 8
Tổng thống bổ nhiệm Thủ tướng. Tổng thống miễn nhiệm Thủ tướng khi có đơn từ chức của Chính phủ do Thủ tướng trình lên. Theo đề nghị của Thủ tuớng, Tổng thống bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên khác của Chính phủ.

Điều 9
Tổng thống chủ trì các phiên họp Hội đồng Bộ trưởng. 

Điều 10
Tổng thống ký quyết định ban hành các đạo luật trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày đạo luật được chính thức thông qua được chuyển cho Chính phủ. Trước khi hết thời hạn trên, Tổng thống có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại một lần nữa về toàn bộ hoặc một số điều khoản của đạo luật. Nghị viện không được từ chối yêu cầu thảo luận lại này.

Điều 11
Theo đề nghị của Chính phủ trong khi Nghị viện họp hoặc theo đề nghị chung của hai Viện trong Nghị viện được công bố trên Công báo, Tổng thống có quyền đưa ra trưng cầu ý kiến nhân dân các dự luật về tổ chức các cơ quan Nhà nước, cải cách chính sách kinh tế, xã hội của đất nước, dịch vụ công cộng và dự luật phê chuẩn điều ước quốc tế không có quy định trái với Hiến pháp nhưng có ảnh hưởng đến hoạt động của các thiết chế Nhà nước. Trong trường hợp việc trưng cầu ý kiến nhân dân được tổ chức trên cơ sở đề nghị của Chính phủ, thì Chính phủ phải đưa ra tuyên bố trước hai Viện để tiến hành thảo luận.

Nếu kết quả trưng cầu ý kiến nhân dân chuẩn y việc thông qua dự thảo luật, thì Tổng thống ký quyết định ban hành luật trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có kết quả trưng cầu ý kiến nhân dân.

Điều 12
Sau khi tham khảo ý kiến của Thủ tướng và Chủ tịch của hai Viện, Tổng thống có quyền tuyên bố giải tán Hạ viện. Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức trong thời hạn sớm nhất là 20 ngày, muộn nhất là 40 ngày kể từ ngày giải tán Hạ viện.

Hạ viện đương nhiên họp phiên đầu tiên vào thứ năm tuần thứ hai tiếp sau ngày bầu cử. Phiên họp này sẽ đương nhiên kéo dài 15 ngày nếu họp vào ngoài thời kỳ quy định cho các khoá họp thường kỳ của Hạ viện.

Không được giải tán Hạ viện một lần nữa trong năm tiếp sau tổng tuyển cử.

Điều 13
Tổng thống ký các Pháp lệnh và các Nghị định của Chính phủ đã được Hội đồng Bộ trưởng thảo luận và thông qua. 

Tổng thống bổ nhiệm các chức vụ dân sự và quân sự của Nhà nước.

Các thẩm phán Toà án hành chính tối cao, Chủ nhiệm Uỷ ban huân huy chương, các đại sứ, các đặc phái viên, các thẩm phán Toà kiểm toán tối cao, các tỉnh trưởng, các đại diện của Chính phủ tại các lãnh thổ hải ngoại, các tướng lĩnh quân sự, giám đốc các sở giáo dục, Vụ trưởng ở các cơ quan hành chính trung ương do Tổng thổng bổ nhiệm theo đề nghị của Hội đồng Bộ trưởng.

Một đạo luật về tổ chức sẽ quy định các chức vụ khác thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của Tổng thống theo đề nghị của Hội đồng Bộ trưởng và quy định các điều kiện để Tổng thống uỷ quyền bổ nhiệm they Tổng thống.

Điều 14
Tổng thống cử và giao quốc thư cho các đại sứ và đặc phái viên của Cộng hoà Pháp tại nước ngoài và tiếp nhận quốc thư của các đại sứ và đặc phái viên nước ngoài tại Cộng hoà Pháp. 

Điều 15
Tổng thống thống lĩnh quân đội. Tổng thống chủ toạ các hội đồng và uỷ ban quốc phòng cao cấp. 

Điều 16
Khi có sự đe doạ nghiêm trọng và trực tiếp đến sự tồn tại của các thiết chế của nền Cộng hoà, độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ hay đến việc thực hiện các cam kết quốc tế của nước Cộng hoà Pháp và có sự đứt quãng trong hoạt động bình thường của các cơ quan hiến định của Nhà nước, Tổng thống có quyền áp dụng mọi biện pháp cần thiết để khắc phục, sau khi tham khảo ý kiến chính thức của Thủ tướng, Chủ tịch của hai Viện và Chủ tịch Hội đồng Hiến Pháp. Tổng thống ra thông điệp thông báo với Quốc dân về việc áp dụng các biện pháp đó.

Các biện pháp được áp dụng đều phải nhằm mục đích đảm bảo cho các cơ quan hiến định của Nhà nước có được trong thời hạn sớm nhất các phương tiện cần thiết để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Hội đồng Hiến pháp được tham khảo ý kiến về những vấn đề liên quan đến các cơ quan hiến định của Nhà nước.

Trong những trường hợp này, Nghị viện sẽ đương nhiên tiến hành phiên họp.

Hạ viện không thể bị giải tán trong thời gian Tổng thống thực hiện các quyền hạn đặc biệt.

Điều 17
Tổng thống có quyền ân xá. 

Điều 18
Tổng thống quan hệ với hai Viện của Nghị viên bằng các thông điệp đọc trước hai Viện và Nghị viện không thảo luận về các thông điệp của Tổng thống. Nếu thông điệp của Tổng thống được đưa ra trong thời gian Nghị viện không họp, thì Nghị viện phải triệu tập một phiên họp đặc biệt để nghe thông điệp của Tổng thống.

Điều 19
Trừ các văn bản quy định tại các điều 8 (khoản 1), 11, 12, 16, 18, 54, 56 và 61 của Hiến pháp này, các văn bản khác của Tổng thống phải có tiếp ký của Thủ tướng, và trong trường hợp cần thiết, của các Bộ trưởng hữu quan. 

Chương III
Chính phủ

Điều 20
Chính phủ xây dựng và thực hiện chính sách quốc gia. Chính phủ nắm giữ, điều hành hệ thống hành chính và các lực lượng vũ trang.

Chính phủ chịu trách nhiệm trước Nghị viện trong những điều kiện và theo các thủ tục quy định tại điều 49 và 50.

Điều 21
Thủ tướng điều hành hoạt động của Chính phủ. Thủ tướng chịu trách nhiệm về quốc phòng. Thủ tướng bảo đảm việc chấp hành pháp luật. Trừ các trường hợp quy định tại điều 13, Thủ tướng thực hiện quyền ban hành các văn bản dưới luật và bổ nhiệm các chức vụ dân sự và quân sự. Thủ tướng có thể uỷ quyền cho các Bộ trưởng thực hiện một số quyền hạn của mình.

Trong một số trường hợp, Thủ tướng thay Tổng thống chủ trì các Hội đồng và các Uỷ ban quy định tại điều 15.
Trong trường hợp đặc biệt, Thủ tướng có thể thay thế Tổng thống chủ trì cuộc họp của Hội đồng Bộ trưởng với điều kiện có uỷ quyền của Tổng thống và có một chương trình nghị sự cụ thể.

Điều 22
Trong trường hợp cần thiết, các văn bản của Thủ tướng phải có tiếp ký của các Bộ trưởng chịu trách nhiệm thi hành văn bản đó. 

Điều 23
Thành viên của Chính phủ không được đồng thời kiêm nhiệm nhiệm kỳ Nghị sỹ, chức vụ đại diện quốc gia của các tổ chức nghề nghiệp, chức vụ công hay mọi hoạt động nghề nghiệp khác. Một đạo luật về tổ chức quy định cụ thể các điều kiện để thay thế những người được bầu vào các chức vụ dân cử đang giữ các chức vụ công hoặc tư nêu trên.

Việc thay thế các thành viên của Nghị viện được thực hiện theo các quy định tại điều 25.

Chương IV
Nghị viện

Điều 24
Nghị viện bao gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ nghị sỹ được bầu theo hình thức trực tiếp.

Thượng viện được bầu theo hình thức gián tiếp. Thượng viện thực hiện chức năng đại diện cho các cộng đồng lãnh thổ địa phương của Cộng hoà Pháp. Người Pháp cư trú ở ngoài nước Pháp cũng có đại diện trong Thượng viện.

Điều 25
Một đạo luật về tổ chức sẽ quy định về nhiệm kỳ của mỗi Viện trong Nghị viện, số lượng thành viên, chế độ phụ cấp, điều kiện ứng cử, các trường hợp không được ứng cử và các trường hợp bất khả kiêm nhiệm. Đạo luật này cũng quy định các điều kiện bầu người tạm thời thay thế Hạ nghị sỹ hoặc Thượng nghị sỹ khuyết cho đến khi bầu mới toàn bộ hoặc một phần Viện có đại biểu khuyết đó.

Điều 26
Thành viên Nghị viện không thể bị truy tố, điều tra, bắt giữ, xét xử vì những ý kiến phát biểu khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Thành viên của Nghị viện chỉ bị áp dụng biện pháp bắt giữ hay biện pháp hạn chế tự do trong lĩnh vực hình sự khi có sự cho phép của Thường vụ Hạ viện hoặc Thường vụ Thượng viện nơi thành viên đó trực thuộc. 

Trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đã có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Toà án thì không cần có sự cho phép này.

Biện pháp tạm giam, biện pháp hạn chế tự do hay truy tố đối với một thành viên của Nghị viện sẽ bị tạm đình chỉ trong thời gian Nghị viện họp nếu có yêu cầu từ một trong hai Viện này nơi người đó trực thuộc.

Hạ viện hoặc Thượng viện sẽ đương nhiên họp phiên bổ sung để quyết định về việc áp dụng các quy định tại khoản trên.

Điều 27
Mọi sự uỷ quyền mang tính áp đặt đối với Nghị sỹ đều vô hiệu. Quyền bỏ phiếu biểu quyết của thành viên Nghị viện là quyền mang tính cá nhân.

Trong trường hợp đặc biệt, thành viên Nghị viện có thể uỷ quyền biểu quyết của mình cho người khác theo quy định của một đạo luật về tổ chức. Trong trường hợp này, một người chỉ được nhận uỷ quyền của một thành viên Nghị viện là tối đa.

Điều 28
Nghị viện họp khoá thường kỳ bắt đầu vào ngày làm việc đầu tiên của tháng mười và kết thúc vào ngày làm việc cuối cùng của thàng sáu. Số ngày họp của khoá họp thường kỳ của mỗi Viện không được vượt quá 120 ngày. Mỗi Viện chủ động xác định các tuần tiến hành phiên họp.

Sau khi tham khảo ý kiến của Chủ tịch Hạ viện hoặc Chủ tịch Thượng viện, Thủ tướng hoặc đa số thành viên trong Hạ viện hoặc Thượng viện có quyền quyết định về tổ chức các ngày họp thêm.

Ngày giờ, thời gian họp được quy định trong Quy chế hoạt động của mỗi Viện.

Điều 29
Nghị viện họp khoá họp bất thường theo một chương trình nghị sự cụ thể, trên cơ sở có đề nghị của Thủ tướng hoặc của đa số thành viên của Hạ viện. Trong trường hợp khoá họp bất thường được tổ chức theo đề nghị của các thành viên của Hạ viện, thì khoá họp sẽ phải bế mạc ngay khi Nghị viện đã thảo luận hết các vấn đề trong chương trình nghị sự đã xác định khi triệu tập khoá họp bất thường và chậm nhất là sau 12 ngày kể từ ngày khai mạc.

Thủ tướng là người duy nhất có quyền yêu cầu triệu tập một khoá họp mới của Nghị viện trong thời hạn một tháng kể từ khi khoá họp bất thường bế mạc.

Điều 30
Ngoài các trường hợp Nghị viện họp đương nhiên, các khoá họp bất thường khác đều phải được triệu tập, khai mạc và bế mạc theo quyết định của Tổng thống. 

Điều 31
Các thành viên Chính phủ được tham dự kỳ họp của hai Viện, được phát biểu ý kiến nếu có yêu cầu. Thành viên Chính phủ có thể có sự hỗ trợ của các cố vấn Chính phủ.

Điều 32
Chủ tịch Hạ viện được bầu cho suốt nhiệm kỳ Hạ viện. Chủ tịch Thượng viện được bầu mỗi khi tiến hành bầu mới một phần thành viên của Thượng viện. 

Điều 33
Các phiên họp của Hạ viện và Thượng viện được tổ chức công khai. Toàn văn báo cáo phiên họp được đăng Công báo. Theo đề nghị của Thủ tướng hoặc của 10% số thành viên, Hạ viện hoặc Thượng viện có thể tổ chức phiên họp kín.

Chương V
Quan hệ giữa Chính phủ và Nghị viện

Điều 34
Luật do Nghị viện biểu quyết thông qua
Luật quy định các vấn đề sau đây :
– Các quyền dân sự, các bảo đảm cơ bản cho công dân thực hiện các quyền tự do công cộng của mình ; nghĩa vụ về người và tài sản của công dân phục vụ nhiệm vụ quốc phòng ; – Quốc tịch, nhân thân, năng lực pháp luật, năng lực hành vi, chế độ sở hữu tài sản trong hôn nhân, thừa kế, định đoạt tài sản ;
– Quy định các tội phạm hình sự và hình phạt kèm theo ; thủ tục tố tụng hình sự ; đại xá ; thành lập các ngạch toà án mới ; quy chế thẩm phán ;
– Các nguồn thu thuế, thuế suất và phương thức thu thuế các loại ; chế độ phát hành tiền tệ.

Luật cũng quy định các vấn đề liên quan đến :
– Chế độ bầu cử Nghị viện và các Hội đồng dân cử địa phương ;
– Thành lập các loại đơn vị sự nghiệp công ;
– Các bảo đảm cơ bản cho công chức dân sự và quân sự của Nhà nước ;
– Quốc hữu hoá các doanh nghiệp ; chuyển quyền sở hữu doanh nghiệp từ khu vực Nhà nước sang khu vực tư nhân.

Luật quy định các nguyên tắc cơ bản về :
– Tổ chức nền quốc phòng nói chung ;
– Quyền tự chủ trong quản lý của các chính quyền địa phương, thẩm quyền và các nguồn thu của chính quyền địa phương ;
– Giáo dục ;
– Chế độ sở hữu ; quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực dân sự và thương mại ;
– Pháp luật lao động, pháp luật công đoàn và bảo đảm xã hội.

Các đạo luật về tài chính quy định về các nguồn thu và các khoản chi tiêu của Nhà nước theo các điều kiện và thể thức quy định trong một đạo luật về tổ chức.

Các đạo luật về tạo nguồn vốn cho Quỹ bảo hiểm xã hội quy định các điều kiện chung về cân đối tài chính của Quỹ, xác định các mục đích chi tiêu của Quỹ trên cơ sở dự toán nguồn thu theo các điều kiện và thể thức quy định trong một đạo luật về tổ chức.

Các đạo luật về chương trình hoạt động quy định các mục tiêu trong hoạt động kinh tế, xã hội của Nhà nước.

Các quy định tại điều này sẽ được cụ thể hoá và bổ sung bằng một đạo luật về tổ chức.

Điều 35
Nghị viện có quyền tuyên bố chiến tranh. 

Điều 36
Tình trạng giới nghiêm được ban hành sau khi đã đưa ra thảo luận và thông qua tại Hội đồng Bộ trưởng. Việc kéo dài thời hạn áp dụng tình trạng giới nghiệm quá 12 ngày phải có sự cho phép của Nghị viện.

Điều 37
Các vấn đề khác không nằm trong phạm vi điều chỉnh của luật sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của các văn bản dưới luật. 

Đối với các văn bản ban hành dưới hình thức văn bản của cơ quan lập pháp điều chỉnh các vấn đề này, thì việc sửa đổi, bổ sung được thực hiện theo Nghị định của Chính phủ ban hành sau khi có ý kiến thuận của Toà án hành chính tối cao. 

Đối với các văn bản dạng này mà được ban hành sau khi Hiến pháp này có hiệu lực, thì việc sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định của Chính phủ chỉ được thực hiện khi có quyết định của Hội đồng Hiến pháp xác nhận các văn bản đó có tính chất là văn bản dưới luật theo quy định tại khoản trên.

Điều 38
Để thực hiện chương trình hoạt động của mình, Chính phủ có thể yêu cầu Nghị viện cho phép ban hành Pháp lệnh quy định việc áp dụng trong một thời gian nhất định các biện pháp thông thường thuộc phạm vi điều chỉnh của luật. Các Pháp lệnh này được ban hành sau khi đã đưa ra thảo luận tại Hội đồng Bộ trưởng và sau khi có ý kiến của Toà án hành chính tối cao. Pháp lệnh có hiệu lực ngay khi công bố và đương nhiên hết hiệu lực nếu dự luật phê chuẩn Pháp lệnh đó không được trình lên Nghị viện trong thời hạn mà đạo luật cho phép ban hành Pháp lệnh ấn định.

Hết thời hạn quy định tại khoản 1, điều này, việc sửa đổi, bổ sung các quy định của Pháp lệnh về các vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của luật chỉ có thể được thực hiện bằng một văn bản luật.

Điều 39
Thủ tướng và các thành viên Nghị viện đều có quyền đưa ra sáng kiến ban hành luật. Các dự thảo luật được đưa ra thảo luận tại Hội đồng Bộ trưởng sau khi có ý kiến của Toà án hành chính tối cao và được trình lên Thường vụ Hạ viện hoặc Thường vụ Thượng viện. Các dự thảo luật về tài chính phải được trình Hạ viện trước. Các dự thảo luật về tài chính và các dự thảo luật về tạo vốn cho Quỹ bảo hiểm xã hội cũng được trình Hạ viện trước.

Điều 40
Các đề xuất sửa đổi, bổ sung do thành viên Nghị viện đưa ra sẽ không được chấp nhận nếu việc thông qua các đề xuất sửa đổi, bổ sung đó có hệ quả làm giảm nguồn lực của Nhà nước, tạo ra hoặc làm tăng thêm khoản chi của Nhà nước. 

Điều 41
Nếu trong quá trình xây dựng và ban hành luật, có một đề xuất sửa đổi, bổ sung do thành viên Nghị viện đưa ra không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hoặc trái với các quy định về uỷ quyền tại điều 38, Chính phủ có thể không chấp nhận đề xuất sửa đổi, bổ sung đó. Trong trường hợp có ý kiến khác nhau giữa Chính phủ và Chủ tịch Hạ viện hoặc Chủ tịch Thượng viện, Hội đồng Hiến pháp giải quyết trong thời hạn 8 ngày, theo đề nghị của Chính phủ hoặc của một trong hai Viện trên.

Điều 42
Hạ viện hoặc Thượng viện nhận được dự thảo luật trước thì sẽ tiến hành thảo luận về dự thảo đó trên cơ sở văn bản dự thảo do Chính phủ trình. Viện nào nhận được văn bản dự thảo luật đã được Viện kia thông qua rồi thì tiến hành thảo luận về dự thảo luật trên cơ sở văn bản dự thảo đã được thông qua đó.

Điều 43
Dự án luật được chuyển cho Uỷ ban có liên quan nghiên cứu, xem xét khi có yêu cầu của Chính phủ hoặc của một trong hai Viện đã nhận được dự án luật đó. Dự án luật mà không có đề nghị của Chính phủ hoặc một trong hai Viện sẽ được chuyển cho một trong những Uỷ ban chuyên trách của Hạ viện hoặc của Thượng viện. Số lượng Uỷ ban chuyên trách của mỗi Viện không quá sáu uỷ ban.

Điều 44
Thành viên Nghị viện và Chính phủ có quyền trình dự án sửa đổi, bổ sung. Chính phủ có quyền phản đối việc nghiên cứu, xem xét dự án sửa đổi, bổ sung ngay cả khi việc thảo luận về dự án đã được bắt đầu, nếu trước đó dự án chưa được trình lên Uỷ ban có liên quan.

Nếu Chính phủ có yêu cầu, Hạ viện hoặc Thượng viện sẽ tiến hành một lần biểu quyết duy nhất về một phần hoặc toàn bộ nội dung văn bản đưa ra thảo luận trên cơ sở chỉ giữ lại những sửa đổi, bổ sung được Chính phủ đề xuất hoặc chấp nhận.

Điều 45
Dự án luật được lần lượt đưa ra xem xét, thảo luận tại hai Viện của Nghị viện để thông qua được một văn bản thống nhất. Trong trường hợp do có ý kiến khác nhau giữa Hạ viện và Thượng viện mà sau hai lần xem xét, thảo luận tại mỗi Viện, dự án luật vẫn không được thông qua hoặc trong trường hợp mỗi Viện mới xem xét một lần mà Chính phủ tuyên bố tính cấp thiết phải ban hành dự án luật đó, thì Thủ tướng có quyền đề nghị một Uỷ ban hỗn hợp có thành phần ngang số giữa Hạ viện và Thượng viện chịu trách nhiệm soạn thảo, đề xuất một văn bản về các quy định vẫn còn có ý kiến khác nhau.

Văn bản do Uỷ ban hỗn hợp soạn thảo có thể được Chính phủ trình hai Viện phê duyệt. Mọi sửa đổi, bổ sung đều không 
được chấp nhận trừ trường hợp có sự đồng ý của Chính phủ.

Nếu Uỷ ban hỗn hợp không đạt tới việc thông qua một văn bản chung hoặc nếu văn bản được thông qua không phù hợp với các điều kiện quy định tại khoản trên, thì sau khi văn bản đã được Hạ viện và Thượng viện xem xét, thảo luận lại một lần nữa, Chính phủ có quyền yêu cầu Hạ viện đưa ra quyết định cuối cùng. Trong trường hợp này, Hạ viện có thể sử dụng văn bản do Uỷ ban hỗn hợp soạn thảo hoặc văn bản cuối cùng mà mình đã bỏ phiếu biểu quyết trên cơ sở thêm vào, nếu cần, các nội dung sửa đổi, bổ sung đã được Thượng viện thông qua.

Điều 46
Việc biểu quyết thông qua và sửa đổi, bổ sung các đạo luật có tính chất là luật về tổ chức theo quy định của Hiến pháp được thực hiện theo những quy định sau đây. Viện đầu tiên nhận được dự án luật chỉ được tiến hành thảo luận và biểu quyết sau khi hết thời hạn 15 ngày kể từ ngày dự án được trình lên.

Thủ tục quy định tại điều 45 cũng được áp dụng. Tuy nhiên, nếu giữa hai Viện không đạt được thoả thuận, thì văn bản chỉ được Hạ viện thông qua lần cuối nếu đạt được đa số tuyệt đối tổng số thành viên của Hạ viện nhất trí thông qua.

Các đạo luật về tổ chức liên quan đến Thượng viện phải được cả hai Viện thống nhất thông qua.

Các đạo luật về tổ chức chỉ được ban hành sau khi có tuyên bố của Hội đồng Hiến pháp về tính phù hợp với Hiến pháp của các đạo luật đó.

Điều 47
Nghị viện biểu quyết về các dự án luật về tài chính theo các điều kiện quy định trong một đạo luật về tổ chức. Nếu Hạ viện không đưa ra ý kiến lần đầu trong thời hạn 40 ngày kể từ ngày dự án luật được trình lên, thì Chính phủ có quyền đưa dự án ra trước Thượng viện xem xét và cho ý kiến trong thời hạn 15 ngày. Các bước tiếp theo tiến hành theo các điều kiện quy định tại điều 45.

Nếu Nghị viện không đưa ra ý kiến trong thời hạn 70 ngày, thì các quy định của dự án luật có thể được ban hành dưới hình thức Pháp lệnh.

Nếu đạo luật về tài chính quy định các khoản thu chi trong năm tài chính không được trình trong thời hạn cần thiết để có thể được ban hành trước khi bắt đầu năm tài chính đó, thì trong thời hạn sớm nhất, Chính phủ phải yêu cầu Nghị viện cho phép thu các loại thuế và thực hiện các khoản chi (dưới hình thức ban hành Nghị định) có liên quan đến các hoạt động đã được biểu quyết thông qua.

Các thời hạn quy định tại điều này sẽ bị tạm đình chỉ trong thời gian Nghị viện không họp.

Toà kiểm toán hỗ trợ Nghị viện và Chính phủ kiểm tra việc thực hiện các đạo luật về tài chính.

Điều 47-1
Nghị viện biểu quyết về các dự án luật về tạo vốn cho Quỹ bảo hiểm xã hội theo các điều kiện quy định tại một đạo luật về tổ chức. Nếu Hạ viện không có ý kiến lần đầu trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày trình dự án, thì Chính phủ có quyền trình dự án lên Thượng viện xem xét và cho ý kiến trong thời hạn 15 ngày. Các bước tiếp theo được tiến hành theo các điều kiện quy định tại điều 45.

Nếu Nghị viện không cho ý kiến trong thời hạn 50 ngày, các quy định tại dự án luật có thể được ban hành dưới hình thức Pháp lệnh.

Các thời hạn quy định tại điều này sẽ bị tạm đình chỉ trong thời gian Nghị viện không họp và trong những tuần mà Hạ viện hoặc Thượng viện quyết định không tổ chức các buổi họp của mình theo quy định tại khoản 2, điều 28.
Toà kiểm toán giúp Nghị viện và Chính phủ kiểm tra việc thực hiện các đạo luật về tạo vốn cho Quỹ bảo hiểm xã hội.

Điều 48
Các nội dung trong chương trình nghị sự của hai Viện thuộc Nghị viện được sắp xếp theo thứ tự ưu tiên do Chính phủ xác định, bao gồm việc thảo luận về các dự án luật do Chính phủ trình và các dự luật của thành viên Nghị viện đưa vào và được Chính phủ chấp nhận. Mỗi tuần ít nhất phải ưu tiên giành một buổi họp để các Nghị sỹ chất vấn và thành viên Chính phủ trả lời chất vấn.

Mỗi tháng phải ưu tiên giành một buổi họp để xem xét các vấn đề theo chương trình nghị sự do mỗi Viện xác định.

Điều 49
Sau khi Hội đồng Bộ trưởng đã thảo luận và ra nghị quyết, Thủ tướng thay mặt Chính phủ chịu trách nhiệm trước Hạ viện về chương trình hoạt động của Chính phủ hoặc về tuyên bố chính sách chung của Chính phủ. Hạ viện truy cứu trách nhiệm của Chính phủ qua bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ. Thủ tục bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ chỉ được chấp nhận khi có chữ ký của ít nhất 10% số thành viên Hạ viện. Việc bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ chỉ được tổ chức sau 48 giờ kể từ lúc trình kiến nghị. Khi kiểm phiếu, chỉ cần tính các phiếu thuận không tín nhiệm Chính phủ và việc bất tín nhiệm Chính phủ được thông qua khi đạt đa số phiếu của các thành viên của Hạ viện. Trong trường hợp quy định tại khoản dưới đây, trong một khoá họp thường kỳ của Hạ viện, một thành viên Nghị viện không thể đứng tên đề xuất quá ba kiến nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ và, trong khoá họp bất thường của Hạ viện, thì không thể quá một kiến nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ.

Sau khi Hội đồng Bộ trưởng thảo luận và ra nghị quyết, Thủ tướng thay mặt Chính phủ chịu trách nhiệm trước Hạ viện về việc biểu quyết thông qua văn bản. Trong trường hợp này, văn bản coi như đã được thông qua trừ trường hợp có kiến nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ đưa ra trong thời hạn 24 giờ sau đó và đã được biểu quyết thông qua theo các điều kiện quy định tại khoản trên.

Thủ tướng có quyền yêu cầu Thượng viện phê duyệt tuyên bố chính sách chung của Chính phủ.

Điều 50
Trong trường hợp Hạ viện bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ hoặc không phê duyệt chương trình hành động hoặc tuyên bố chính sách chung của Chính phủ, Thủ tướng phải đệ đơn từ chức của Chính phủ lên Tổng thống. 

Điều 51
Việc bế mạc khoá họp thường kỳ hoặc khoá họp bất thường sẽ đương nhiên được hoãn lại để cho phép áp dụng các quy định tại điều 49 trong trường hợp cần thiết. Các buổi họp bổ sung cũng được đương nhiên tiến hành nhằm phục vụ mục đích này. 

Chương VI

Điều ước và hiệp ước quốc tế

Điều 52
Tổng thống đàm phán và phê chuẩn các điều ước quốc tế. Tổng thống được thông tin đầy đủ về việc đàm phán, ký kết các thoả thuận quốc tế không cần phải phê chuẩn.

Điều 53
Việc phê chuẩn hoặc phê duyệt phải được thực hiện bằng một đạo luật đối với các điều ước hay hiệp ước quốc tế sau đây :
– Điều ước hoà bình ; 
– Điều ước về thương mại ;
– Điều ước hay hiệp ước về tổ chức quốc tế ;
– Điều ước liên quan đến tài chính của Nhà nước ;
– Điều ước làm thay đổi quy định pháp luật trong nước ;
– Điều ước liên quan đến nhân thân của con người ;
– Điều ước về chuyển nhượng, trao đổi, sáp nhập lãnh thổ.

Các điều ước trên chỉ có hiệu lực sau khi được phê chuẩn hoặc phê duyệt.

Việc chuyển nhượng, trao đổi, sáp nhập lãnh thổ sẽ không có giá trị pháp lý nếu không có sự đồng ý của người dân trên lãnh thổ đó.

Điều 53-1
Đối với các quốc gia châu Âu cùng tham gia với Cộng hoà Pháp vào các cam kết trong lĩnh vực cư trú, bảo vệ quyền con người và các tự do cơ bản, Cộng hoà Pháp có thể ký kết với các quốc gia này các hiệp ước quy định thẩm quyền của mỗi bên trong việc xem xét các đơn xin cư trú. Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp đơn xin cư trú không thuộc phạm vi thẩm quyền của mình theo quy định tại các điều ước trên, các cơ quan chức năng của Cộng hoà Pháp vẫn có quyền cho phép cư trú tỵ nạn đối với người nước ngoài bị truy bức do hoạt động vì tự do hoặc đề nghị được sự bảo hộ của Cộng hoà Pháp vì một lý do khác.

Điều 53-2
Cộng hoà Pháp có thể thừa nhận quyền tài phán của Toà án hình sự quốc tế theo các điều kiện quy định tại Công ước ký ngày 18 tháng 7 năm 1998. 

Điều 54
Trong trường hợp, trên cơ sở có đề nghị của Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch Hạ viện hoặc Chủ tịch Thượng viện hoặc của 60 Hạ nghị sỹ hoặc 60 Thượng nghị sỹ, Hội đồng Hiến pháp tuyên bố một cam kết quốc tế có điều khoản trái với Hiến pháp, thì cam kết quốc tế đó chỉ được phê chuẩn hoặc phê duyệt sau khi đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp

Điều 55
Điều ước hoặc hiệp ước quốc tế đã được phê chuẩn hoặc phê duyệt theo đúng quy định, thì ngay khi được công bố sẽ có giá trị pháp lý cao hơn luật trong nước, với điều kiện điều ước hoặc hiệp ước đó cũng được bên ký kết kia tôn trọng, áp dụng. 

Chương VII
Hội đồng Hiến pháp

Điều 56
Hội đồng Hiến pháp bao gồm chín thành viên có nhiệm kỳ chín năm và không được tái nhiệm. Ba năm một lần, Hội đồng Hiến pháp tiến hành thay thế 1/3 số thành viên. Ba thành viên do Tổng thống bổ nhiệm, ba thành viên do Chủ tịch Hạ viện bổ nhiệm và ba thành viên do Chủ tịch Thượng viện bổ nhiệm. Bên cạnh chín thành viên nêu trên, các Tổng thống mãn nhiệm đương nhiên là thành viên suốt đời của Hội đồng Hiến pháp.

Chủ tịch Hội đồng Hiến pháp do Tổng thống bổ nhiệm. Trong trường hợp số phiếu của các thành viên ngang nhau, phiếu của Chủ tịch có giá trị quyết định.

Điều 57
Người đã là thành viên của Hội đồng Hiến pháp thì không được đồng thời kiêm nhiệm Bộ trưởng hoặc thành viên của Nghị viện. Các trường hợp bất khả kiêm nhiệm khác được quy định trong một đạo luật về tổ chức. 

Điều 58
Hội đồng Hiến pháp đảm bảo cho cuộc bầu cử Tổng thống được tiến hành hợp lệ. Hội đồng Hiến pháp xem xét, giải quyết các khiếu nại và công bố kết quả bầu cử.

Điều 59
Trong trường hợp có khiếu nại, Hội đồng Hiến pháp có quyền xem xét về tính hợp lệ của cuộc bầu cử Hạ viện và Thượng viện. 

Điều 60
Hội đồng Hiến pháp đảm bảo cho các hoạt động trưng cầu ý kiến nhân dân được tiến hành hợp lệ và tuyên bố kết quả trưng cầu ý kiến nhân dân. 

Điều 61
Các đạo luật về tổ chức, trước khi được được ban hành, và các Quy chế hoạt động của Hạ viện và Thượng viện, trước khi được áp dụng, phải trình lên Hội đồng Hiến pháp để xem xét tính hợp hiến của các văn bản đó. Đối với các đạo luật khác, trước khi được ban hành, cũng có thể được trình lên Hội đồng Hiến pháp để xem xét tính hợp hiến khi có yêu cầu của Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch Hạ viện, Chủ tịch Thượng viện hoặc 60 Hạ nghị sỹ hoặc 60 Thượng nghị sỹ.

Trong các trường hợp quy định tại hai khoản nêu trên, Hội đồng Hiến pháp phải xem xét và cho ý kiến trong thời hạn một tháng. Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp, theo yêu cầu của Chính phủ, thời hạn này có thể rút lại còn 8 ngày.
Cũng trong những trường hợp trên, việc chuyển văn bản sang cho Hội đồng Hiến pháp xem xét tính hợp hiến sẽ tạm đình chỉ thời hạn ban hành văn bản.

Điều 62
Quy định bị tuyên bố không hợp hiến thì không được ban hành và áp dụng. Các quyết định của Hội đồng Hiến pháp không bị khiếu nại, kháng cáo, kháng nghị. Các quyết định này có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối với tất cả các cơ quan quyền lực Nhà nước và tất cả các cơ quan hành chính và tư pháp.

Điều 63
Một đạo luật về tổ chức sẽ quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Hiến pháp, thủ tục và thời hạn giải quyết trước Hội đồng Hiến pháp

Chương VIII
Cơ quan tư pháp

Điều 64
Tổng thống là người đảm bảo cho sự độc lập của cơ quan tư pháp. Tổng thống có sự hỗ trợ của Hội đồng thẩm phán tối cao.
Một đạo luật về tổ chức sẽ quy định về quy chế thẩm phán.
Các thẩm phán xét xử không thể bị bãi nhiệm, thuyên chuyển.

Điều 65
Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng thẩm phán tối cao. Bộ trưởng Tư pháp là Phó chủ tịch đương nhiên của Hội đồng. Bộ trưởng Tư pháp có thể thay Tổng thống giữ quyền chủ tịch Hội đồng. Hội đồng thẩm phán tối cao bao gồm hai Uỷ ban, một Uỷ ban phụ trách các thẩm phán xét xử và một Uỷ ban phụ trách các thẩm phán công tố.

Uỷ ban phụ trách thẩm phán xét xử có thành phần gồm Tổng thống, Bộ trưởng Tư pháp, năm thẩm phán xét xử, một thẩm phán công tố, một thẩm phán Toà án hành chính tối cao do Toà án hành chính tối cao chỉ định, ba uỷ viên không thuộc Nghị viện cũng không thuộc ngành tư pháp, do Tổng thống chỉ định một, Chủ tịch Hạ viện chỉ định một và Chủ tịch Thượng viện chỉ định một.

Uỷ ban phụ trách thẩm phán công tố có thành phần gồm Tổng thống, Bộ trưởng Tư pháp, năm thẩm phán công tố, một thẩm phán xét xử, thẩm phán Toà án hành chính tối cao và ba uỷ viên nêu tại khoản trên.

Uỷ ban phụ trách thẩm phán xét xử đề cử người để được bổ nhiệm làm thẩm phán Toà phá án , Chánh án Toà phúc thẩm và Chánh án Tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng. Đối với các thẩm phán xét xử khác, việc bổ nhiệm được thực hiện trên cơ sở có ý kiến thuận của Uỷ ban.

Uỷ ban thực hiện thẩm quyền của Hội đồng kỷ luật đối với các thẩm phán xét xử. Với tư cách là Hội đồng kỷ luật, Uỷ ban có chủ tịch là Chánh án Toà phá án.

Uỷ ban phụ trách thẩm phán công tố có quyền cho ý kiến đối với việc bổ nhiệm các thẩm phán công tố, trừ trường hợp bổ nhiệm vào các vị trí công tác được đưa ra thảo luận và quyết định tại Hội đồng Bộ trưởng.

Uỷ ban cho ý kiến về các biện pháp kỷ luật đối với thẩm phán công tố. Khi thực hiện chức năng này, Uỷ ban có chủ tịch là Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà phá án.

Một đạo luật về tổ chức sẽ quy định các điều kiện áp dụng điều khoản này.

Điều 66
Một người không thể bị bắt giữ khi không có căn cứ pháp luật. Cơ quan tư pháp, với tư cách là người bảo vệ cho tự do cá nhân, đảm bảo sự tuân thủ nguyên tắc này theo các điều kiện do pháp luật quy định.

Chương IX
Toà án công lý tối cao

Điều 67
Tại nước Cộng hoà Pháp có thành lập một Toà án công lý tối cao. Thành viên của Toà án công lý tối cao bao gồm các Hạ nghị sỹ và các Thượng nghị sỹ có số lượng ngang nhau do Hạ viện và Thượng viện bầu ra. Việc bầu thành viên Toà án công lý tối cao được tiến hành mỗi khi bầu mới một phần hoặc toàn bộ thành viên của Hạ viện và Thượng viện. Các thành viên của Toà bầu ra Chánh án trong số các thành viên đó.

Một đạo luật về tổ chức sẽ quy định về thành phần của Toà án công lý tối cao, quy chế hoạt động và thủ tục tố tụng trước Toà án công lý tối cao.

Điều 68
Tống thống chỉ chịu trách nhiệm về các hành vi thực hiện trong khi thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình khi các hành vi đó cấu thành tội đại phản quốc. Tổng thống chỉ bị đưa ra xét xử theo quyết định thống nhất của cả hai Viện trong Nghị viện. Quyết định này phải được biểu quyết công khai và phải đạt được đa số tuyệt đối tổng số phiếu của các thành viên của Nghị viện ; Tổng thống do Toà án công lý tối cao xét xử. 

Chương X
Trách nhiệm hình sự của các thành viên Chính phủ

Điều 68-1
Thành viên Chính phủ chịu trách nhiệm hình sự về các hành vi thực hiện trong khi thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng theo quy định pháp luật vào thời điểm thực hiện hành vi đó. Thành viên Chính phủ do Toà án công lý Cộng hoà xét xử.

Toà án công lý Cộng hoà phải căn cứ vào định nghĩa tội phạm nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng cũng như các khung hình phạt luật định để xét xử.

Điều 68-2
Toà án công lý Cộng hoà bao gồm 15 thẩm phán, trong đó 12 người là thành viên của Nghị viện, một nửa do Hạ viện bầu trong số các Hạ nghị sỹ, một nửa do Thượng viện bầu trong số các Thượng nghị sỹ và 3 người là thẩm phán xét xử của Toà phá án, một trong ba thẩm phán này sẽ làm Chánh án Toà án công lý Cộng hoà. Việc bầu các thành viên Nghị viện làm thẩm phán Toà án công lý Cộng hoà được tiến hành mỗi khi bầu mới một phần hay toàn bộ thành viên của hai Viện trong Nghị viện. Người nào bị thiệt hại do hành vi phạm tội của thành viên Chính phủ gây ra trong khi thi hành công vụ có quyền gửi đơn kiện lên một Uỷ ban giải quyết đơn thư khiếu nại.

Uỷ ban này có quyền quyết định đình chỉ vụ việc hoặc chuyển hồ sơ sang Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà phá án để khởi tố trước Toà án công lý Cộng hoà.

Trên cơ sở ý kiến thuận của Uỷ ban giải quyết đơn thư khiếu nại, Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Toà phá án có quyền chủ động khởi tố trước Toá án công lý Cộng hoà.

Một đạo luật về tổ chức sẽ hướng dẫn chi tiết thi hành các quy định tại điều này.

Điều 68-3
Các quy định tại chương này được áp dụng đối với cả các hành vi thực hiện trước khi chương này có hiệu lực áp dụng. 

Chương XI
Hội đồng kinh tế, xã hội

Điều 69
Khi có yêu cầu của Chính phủ, Hội đồng kinh tế, xã hội cho ý kiến về các dự thảo luật, pháp lệnh, nghị định cũng như cho ý kiến về các dự án luật do Nghị viện soạn thảo và gửi xin ý kiến Hội đồng kinh tế, xã hội. Hội đồng kinh tế, xã hội có thể chỉ định một người trong số các thành viên của mình để trình bày ý kiến của Hội đồng trước hai Viện của Nghị viện về dự thảo văn bản có liên quan.

Điều 70
Hội đồng kinh tế, xã hội cũng có thể được Chính phủ tham khảo ý kiến về mọi vấn đề kinh tế, xã hội. Mọi kế hoạch hoạt động, dự thảo luật về chương chình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, xã hội đều phải có ý kiến của Hội đồng kinh tế, xã hội. 

Điều 71
Một đạo luật về tổ chức sẽ quy định thành phần và quy chế hoạt động của Hội đồng kinh tế, xã hội. 

Chương XII
Các đơn vị hành chính lãnh thổ địa phương

Điều 72
Các đơn vị hành chính lãnh thổ hiến định của Cộng hoà Pháp bao gồm xã, tỉnh và các lãnh thổ hải ngoại. Các đơn vị hành chính lãnh thổ khác được thành lập theo luật. Các đơn vị hành chính lãnh thổ này được quản lý theo hình thức tự quản bởi các Hội đồng dân cử địa phương và theo các điều kiện do pháp luật quy định.

Trong mỗi tỉnh và mỗi lãnh thổ đều có một đại diện của Chính phủ chịu trách nhiệm đảm bảo cho lợi ích quốc gia, kiểm tra về mặt hành chính và đảm bảo sự tuân thủ pháp luật.

Điều 73
Chế độ lập pháp và cơ cấu tổ chức hành chính của các tỉnh hải ngoại được áp dụng các biện pháp điều chỉnh cần thiết cho phù hợp với hoàn cảnh đặc thù của các tỉnh này. 

Điều 74
Các lãnh thổ hải ngoại của Cộng hoà Pháp có cơ cấu tổ chức đặc thù phù hợp với lợi ích riêng trên cơ sở hài hoà với lợi ích chung của quốc gia. Quy chế của các lãnh thổ hải ngoại được xây dựng, sửa đổi, bổ sung dưới hình thức một đạo luật về tổ chức được ban hành sau khi tham khảo ý kiến của Hội đồng dân cử của lãnh thổ có liên quan. Quy chế này chủ yếu quy định về thẩm quyền của các thiết chế riêng của lãnh thổ hải ngoại đó.

Các quy định khác về cơ cấu tổ chức đặc thù của các lãnh thổ hải ngoại được xây dựng, sửa đổi, bổ sung dưới hình thức một đạo luật thông thường được ban hành sau khi tham khảo ý kiến của Hội đồng dân cử của lãnh thổ có liên quan.

Điều 75
Đối với các công dân của Cộng hoà Pháp không được hưởng quy chế công dân chung quy định tại điều 34, Hiến pháp này, thì vẫn duy trì quy chế nhân thân riêng của mình chừng nào chưa từ bỏ quy chế đó. 

Điều 76
(Bãi bỏ)

Chương XIII
Cộng đồng Pháp quốc
(Bãi bỏ)

Chương XIII
Các quy định chuyển tiếp liên quan đến
lãnh thổ Tân Đảo

Điều 76
Trong thời hạn đến trước ngày 31 tháng 12 năm 1998, nhân dân Tân Đảo sẽ phải bỏ phiếu cho biết ý kiến về các quy định của Hiệp ước ký ngày 5 tháng 5 năm 1998 tại Nouméa và công bố ngày 27 tháng 5 năm 1998 trên Công báo của nước Cộng hoà Pháp. Chỉ những người thoả mãn các điều kiện quy định tại điều 2, Đạo luật số 88-1028, ngày 9 tháng 11 năm 1988 mới được tham gia bỏ phiếu.

Việc áp dụng các biện pháp cần thiết cho tổ chức bỏ phiếu được quyết định theo Nghị định của Chính phủ thông qua sau khi đã thảo luận tại Hội đồng Bộ trưởng và có ý kiến thuận của Tham chính viện.

Điều 77
Sau khi Hiệp ước được nhân dân Tân Đảo thông qua theo quy định tại điều 76, một đạo luật về tổ chức sẽ được ban hành trên cơ sở có tham khảo ý kiến của Hội đồng dân cử của Tân Đảo và quy định về các vấn đề sau đây nhằm đảm bảo cho sự phát triển của Tân Đảo trên cơ sở tôn trọng những định hướng chung quy định trong Thoả thuận và theo những thể thức cần thiết cho việc thực hiện Thoả thuận đó :

– Những thẩm quyền của Nhà nước Trung ương sẽ được vĩnh viễn chuyển giao cho các thiết chế của Tân Đảo ; tiến độ cũng như phương thức chuyển giao thẩm quyền ; việc phân bổ trách nhiệm ngân sách xuất phát từ sự chuyển giao này ; 
– Quy chế tổ chức, hoạt động của các thiết chế của Tân Đảo ; những trường hợp văn bản của Hội đồng dân cử của Tân Đảo phải được trình cho Hội đồng Hiến pháp xem xét trước khi được công bố ban hành ;
– Các quy định về quy chế công dân, chế độ bầu cử, các chức vụ dân sự theo tập quán ;
– Điều kiện và thời hạn tiến hành tham khảo ý kiến của người dân Tân Đảo về việc tiếp nhận và thực hiện toàn bộ chủ quyền của lãnh thổ mình.

Các biện pháp khác cần thiết cho việc thực hiện Thoả thuận quy định tại điều 76 được quy định dưới hình thức đạo luật thông thường.

Chương XIV
Các Hiệp ước liên minh

Điều 88
Cộng hoà Pháp ký kết các Hiệp ước với các quốc gia khác muốn liên minh với Pháp để cùng phát triển nền văn minh của mình. 

Chương XV
Cộng đồng Châu Âu và Liên minh Châu Âu

Điều 88-1
Cộng hoà Pháp tham gia vào Cộng đồng châu Âu và Liên minh châu Âu, là hai thực thể bao gồm các quốc gia tự nguyện, trên cơ sở các điều ước thiết lập nên Cộng đồng châu Âu và Liên minh châu Âu, cùng nhau thực hiện mọt số thẩm quyền chung trong số các thẩm quyền quốc gia. 

Điều 88-2
Trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại và theo những thể thức quy định tại Hiệp ước về Liên minh châu Âu ký ngày 7 tháng 2 năm 1992, Cộng hoà Pháp cam kết chuyển giao một số thẩm quyền cần thiết cho việc thành lập Liên minh kinh tế, tiền tệ châu Âu. Cũng với những điều kiện như trên và theo những thể thức quy định tại Hiệp ước thành lập Cộng đồng châu Âu (văn bản ký ngày 2 tháng 10 năm 1997), nước Pháp có thể chuyển giao một số thẩm quyền cần thiết cho việc xây dựng quy chế về tự do đi lại của công dân và về các vấn đề có liên quan.

Điều 88-3
Trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại và theo những thể thức quy định tại Hiệp ước về Liên minh châu Âu ký ngày 7 tháng 2 năm 1992, chỉ các công dân của Liên minh châu Âu sinh sống trên lãnh thổ Pháp mới có quyền bỏ phiếu và ứng cử tại các cuộc bầu cử Hội đồng địa phương. Các công dân này không có quyền thực hiện các chức năng thị trưởng, phó thị trưởng, không được tham gia chỉ định các cư tri đi bầu Thượng viện, không được tham gia bầu Thượng viện. Một đạo luật về tổ chức được hai Viện của Nghị viện thống nhất thông qua sẽ hướng dẫn chi tiết thi hành các quy định tại điều này. 

Điều 88-4
Khi chuyển cho Hội đồng châu Âu các dự thảo văn bản của Cộng đồng châu Âu và Liên minh châu Âu có chứa đựng các quy định thuộc lĩnh vực lập pháp, thì Chính phủ cũng phải chuyển các dự thảo văn bản đó cho Hạ viện và Thượng viện. Chính phủ có quyền trình Hạ viện và Thượng viện các dự thảo văn bản khác hoặc các tài liệu khác của một thiết chế của Liên minh châu Âu. Theo các thể thức được quy định trong Quy chế hoạt động của Hạ viện và Thượng viện, có thể tiến hành biểu quyết thông qua nghị quyết ngoài thời gian họp của Nghị viện về các dự thảo văn bản và tài liệu quy định tại khoản trên.

Chương XVI
Sửa đổi Hiến pháp

Điều 89
Tổng thống, theo đề nghị của Thủ tướng, và các thành viên của Nghị viện có quyền đưa ra sáng kiến sửa đổi Hiến pháp. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp phải được cả hai Viện thống nhất thông qua. Nội dung sửa đổi Hiến pháp chỉ chính thức có hiệu lực sau khi được nhân dân thông qua trong khuôn khổ một cuộc trưng cầu ý kiến nhân dân.

Tuy nhiên, sẽ không phải đưa dự thảo sửa đổi Hiến pháp ra trưng cầu ý kiến nhân dân khi Tổng thống có quyết định đưa dự thảo ra Nghị viện được triệu tập cả hai Viện họp chung một phiên để xem xét, thông qua ; trong trường hợp này, dự thảo sửa đổi Hiến pháp chỉ được thông qua khi đạt được 3/5 số phiếu ủng hộ trong tổng số phiếu biểu quyết. 

Thường vụ Hạ viện đóng vai trò Uỷ ban thường trực của Đại hội chung của Nghị viện.

Không được tiến hành hoặc tiếp tục tiến hành thủ tục sửa đổi Hiến pháp nếu điều đó vi phạm đến sự toàn vẹn lãnh thổ.
Hình thức chính thể Cộng hoà của Cộng hoà Pháp không thể bị sửa đổi.

Chương XVII
Quy định chuyển tiếp

(Bãi bỏ)

Mục lục

Lời nói đầu và điều 1
Chương I 
: Chủ quyền (điều 2 đến điều 4)
Chương II 
: Tổng thống (điều 5 đến điều 19)
Chương III :
Chính phủ (điều 20 đến điều 23)
Chương IV 
: Nghị viện (điều 24 đến điều 33)
Chương V :
Quan hệ giữa Chính phủ và Nghị viện (điều 34 đến điều 51)
Chương VI :

Điều ước và hiệp ước quốc tế (điều 52 đến điều 55)
Chương VII : 
Hội đồng Hiến pháp (điều 56 đến điều 63)
Chương VIII :
Cơ quan tư pháp (điều 64 đến điều 66)
Chương IX :
Toà án công lý tối cao (điều 67 đến điều 68)
Chương X : 
Trách nhiệm hình sự của các thành viên Chính phủ (điều 68-1 đến điều 68-3)
Chương XI :
Hội đồng kinh tế, xã hội (điều 69 đến điều 71)
Chương XII :
Các đơn vị hành chính lãnh thổ địa phương (điều 72 đến điều 75)
Chương XIII :
Cộng đồng Pháp quốc (bãi bỏ năm 1995, được khôi phục lại năm 1998 trong một chương mới)
Chương XIII (mới) :
Các quy định chuyển tiếp liên quan đến lãnh thổ Tân Đảo (điều 76 đến điều 77)
Chương XIV : 
Các Hiệp ước liên minh (điều 88)
Chương XV :
Cộng đồng châu Âu và Liên minh châu Âu (điều 88-1 đến điều 88-4)
Chương XVI :
Sửa đổi Hiến pháp (điều 89)
Chương XVII :
Quy định chuyển tiếp (bãi bỏ năm 1995)

Nguồn bài viết: http://luathoc.cafeluat.com/showthread.php/17560-Hien-phap-Cong-hoa-Phap?s=9de468caf2023e69219bf18681767e22#ixzz2HKQjnK1s

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s