Chế độ dân chủ ở nước ta là chế độ dân chủ tốt đẹp và ưu việt …

Standard
Chỉ còn vài tháng nữa là nước Việt Nam có một bản hiến pháp mới, tức là bản khế ước của người dân không phân biệt nghèo hay giàu, không phân biệt tư tưởng chính trị, miễn là không phạm tội hình sự hoặc bị tước quyền công dân … để có thể tự do và trách nhiệm bầu lên một chính phủ trong công bằng và hợp pháp bằng chính lá phiếu tự do của mỗi người. Nhưng đó chỉ là ước mơ, vì vị tổng bí thư kính yêu Nguyễn Phú Trọng vừa mới tuyên bố : “sẽ không có đa nguyên đa đảng, sẽ không có tam quyền phân lập”, và “thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”, tức là “trên bảo dưới nghe”, và “phân chia quyền lực” do bộ chính trị của đảng cộng sản đảm nhiệm. Người dân không cần phải được trưng cầu ý kiến, vì đảng đã quyết định và đã suy nghĩ giúp nhân dân rồi. Mà những ai đã từng và đang chiến đấu để xây dựng xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản mới được quyền hưởng hai từ “nhân dân”, tức là đảng viên và gia đình có công cách mạng bạo lực cộng sản, những kẻ còn lại chỉ là phản động, lợi dụng dân chủ nhằm lật đổ chính quyền nhân dân … tức là chính quyền của đảng.

http://www.baomoi.com/Sua-doi-Hien-phap-phai-rach-roi-ba-quyen-lap-phap-hanh-phap-tu-phap/121/6753554.epi

Một bài viết ca ngợi chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam và đưa ra lý lẽ là không cần đa nguyên đa đảng.

Vì sao Việt Nam không cần đa Đảng?

Đa đảng là gì?

Đa nguyên chính trị xuất hiện vào đầu thế kỷ 18, khi giai cấp tư sản còn là giai cấp tiến bộ trong đấu tranh bảo vệ sự đa dạng và bình đẳng của các nhóm xã hội có lợi ích khác nhau, phát triển quyền tự do dân chủ tư sản. Đó là một khuynh hướng xã hội – triết học, tuyệt đối hóa sự đa dạng đối kháng của các nhóm đảng phái, tổ chức chính trị khác nhau trong xã hội. Hệ thống đa đảng là hệ thống mà ở đó có nhiều đảng chính trị có khả năng giành quyền điều hành chính phủ một cách độc lập hay liên minh với nhau.

Trong các quốc gia có thể chế chính trị đa đảng, một đảng nào đó chiếm được đa số (sau thắng lợi bầu cử), nhưng chưa đạt đến mức độ tuyệt đối thì phải liên minh với một số đảng khác, tạo thành một liên minh cầm quyền. Khi đó giữa các đảng có sự dàn xếp với nhau, điều hòa về các vị trí chủ chốt trong nội các, điều hòa về chính sách và quyền lực. Đảng nào chiếm số lượng cử tri đông nhất thì đảng đó có nhiều đại biểu trong quốc hội, có nhiều ghế trong chính phủ, chiếm nhiều vị trí chủ chốt trong chính quyền nhà nước.

Trong các nước thực hiện chế độ một đảng, tính chất quyết định và sự nắm quyền, cũng như sự chi phối của đảng đối với đời sống xã hội, thể hiện rõ và tuyệt đối hơn trên toàn bộ các yếu tố cấu thành nội dung của đảng cầm quyền. Đảng đó là lực lượng duy nhất nắm chính quyền nhà nước, không chia sẻ bất kỳ cho ai, cho bất kỳ một lực lượng xã hội nào. (còn gọi là độc tài, tức là chỉ một mình được nắm trọn mọi quyền lực)

Hai trường hợp cơ bản này đã và đang diễn ra trong đời sống chính trị thế giới hiện đại. Cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng đa đảng và một đảng đã và đang diễn ra rất quyết liệt, thực chất đó là biểu hiện của cuộc đấu tranh giai cấp, phản ánh tính chất gay go, phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay… (chỉ còn một vài nước độc tài như Syria, Việt Nam, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Lào, Cuba là độc đảng, còn các nước khác đều là đa đảng và phi cộng sản)

Có đúng là “nhiều đảng cạnh tranh nhau thì dân chủ hơn”?

Có ý kiến cho rằng, thực hiện đa đảng, có nhiều đảng cạnh tranh nhau thì sẽ dân chủ hơn, sẽ tốt hơn một đảng! Có đúng như vậy không? Câu trả lời ở đây là không phải như vậy. Hãy xem chính người Mỹ nói về nước Mỹ, một nước thực hiện chế độ đa đảng, thực chất là thế nào. Họ nói rằng, nước Mỹ là một nước “tự do” người dân tự do biểu tình, chửi bới, báo chí tự do phanh phui những chuyện nhạy cảm, xuyên tạc, bôi xấu lẫn nhau vì sự cạnh tranh của các đảng phái này, nhằm hạ uy tín của đảng phái kia. Nhưng điều đó không phải là bản chất thực sự của dân chủ. (cần dẫn chứng)

Giáo sư trường Đại học bang Indiana, Paul Mishler cho thấy rõ thực chất vấn đề: “Mọi đói nghèo, thất nghiệp, thất học… đều do lỗi của hệ thống, lỗi từ chủ nghĩa tư bản Mỹ gây ra”; “Nước Mỹ tự xưng là đa đảng nhưng thực chất chỉ là một đảng, đó là đảng của chủ nghĩa tư bản, dù là đảng Cộng hòa hay Dân chủ”(1). (trích từ tạp chí của đảng cộng sản Việt Nam chứ không phải của giáo sư Paul Mishler)

Có thể rút ra một số vấn đề sau: thứ nhất, chế độ đa đảng của nước Mỹ “thực chất chỉ là một đảng”, là sự cầm quyền của đảng tư sản; thứ hai, dân chủ ở nước Mỹ là dân chủ tư sản, không phải là dân chủ của đa số, không thực hiện quyền lực thực sự thuộc về nhân dân; thứ ba, thực chất đa đảng đối lập trong xã hội tư bản chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là bảo đảm quyền lực cho giai cấp tư sản.

Bất cứ một nền dân chủ nào, cũng đều nhằm đảm bảo sự thống trị của giai cấp thống trị, cầm quyền. Dân chủ không phụ thuộc vào cơ chế độc đảng hay đa đảng, mà nó phụ thuộc vào bản chất của chế độ cầm quyền phục vụ cho giai cấp nào. Bản thân nền dân chủ tư sản, dù có được tô vẽ như thế nào chăng nữa, thì nền dân chủ đó vẫn là nền dân chủ của giai cấp tư sản, nhằm bảo đảm sự thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản đối với xã hội và lao động.

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã có và cũng đã phủ định đa đảng

Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn là đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam, là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Qua sự “sàng lọc” dữ dội của lịch sử những thập niên đầu thế kỷ 20, dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là người dẫn dắt mình đi đến tương lai hạnh phúc.

Tháng 8/1945, Đảng ta lãnh đạo toàn dân tộc đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Trong những ngày đầu giữ chính quyền và nền độc lập dân tộc, Đảng ta đã tự tuyên bố giải tán và Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã mở rộng thành phần cho mọi tổ chức, chính đảng cùng tham gia lãnh đạo đất nước. Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã có các đảng như Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội, Quốc dân đảng tham gia. Sau này còn Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội và Đảng Cộng sản, đến năm 1988, Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội tuyên bố tự giải tán.

Toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam và hoạt động của nhà nước Việt Nam mới là do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nền chính trị của nước ta vẫn là nền chính trị nhất nguyên. Chế độ chính trị đó là do nhân dân ta lựa chọn từ chính những trải nghiệm trong quá trình lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống xâm lược và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự nghiệp cách mạng nước ta đã đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động Việt Nam, nhân dân ta thực sự được làm chủ cuộc sống của mình, được sống cuộc đời “tự do, hạnh phúc”.

Tính nguy hiểm của luận điểm đòi Việt Nam thực hiện đa đảng đối lập

Các thế lực thù địch rêu rao “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” như là “khuôn vàng, thước ngọc” của dân chủ mà chúng ta phải tuân theo. Chúng cho rằng: “Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản, vì đó là then chốt của chế độ dân chủ”(2). Quan điểm này được khoác cái vỏ “vì dân chủ”, “vì dân, vì nước”, lợi dụng những khó khăn, phức tạp và cả khuyết điểm của chúng ta trong quá trình thực thi dân chủ để chống phá, nên nó càng trở nên nguy hiểm.

Tính nguy hiểm của thủ đoạn này biểu hiện ở chỗ:

Thứ nhất, luận điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” là luận điểm mang nặng tính chất mị dân, dễ gây nên sự ngộ nhận mơ hồ, lẫn lộn về nhận thức, sự dao động về tư tưởng trong một bộ phận cán bộ và nhân dân. Nếu không thực hiện được ý đồ thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng thì cũng dễ gây nên sự chia rẽ trong xã hội và sự thiếu thống nhất về chính trị tư tưởng trong xã hội; sự hoài nghi, dao động, thiếu niềm tự tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Thứ hai, thực chất luận điểm đó là nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng ta đối với xã hội, xóa bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, “lái’ nền dân chủ nước ta sang nền dân chủ khác, phi xã hội chủ nghĩa. Dù chúng không trực tiếp nói đến chúng ta phải thực hiện dân chủ tư sản, nhưng cái cách “khuyên” chúng ta thực hiện đa đảng, học tập theo các nước phương Tây, đã cho thấy thực chất đó là hướng nền dân chủ nước ta sang dân chủ tư sản.

Thứ ba, đó là luận điểm phản khoa học và phi lịch sử. Bởi vì, trên thực tế không có thứ dân chủ chung chung trừu tượng, trong thời đại ngày nay chỉ có thể là dân chủ tư sản hay dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cái gọi là đa đảng như trong xã hội phương Tây thực chất là sự chi phối của đảng tư sản, là biểu hiện sự tranh chấp giữa các nhóm chính trị khác nhau của chính giai cấp tư sản. Nếu nước ta thực hiện đa đảng thì các thế lực thù địch muốn đa đảng như thế nào, chắc chắn rằng chúng không muốn đa đảng mà ở đó lại có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Điều gì sẽ đến, nếu ở Việt Nam thực hiện đa đảng?

Các thế lực thù địch “khuyên” chúng ta thực hiện đa đảng thì sẽ được dân chủ hơn, đất nước sẽ phát triển hơn đời sống nhân dân sẽ được tốt đẹp hơn. Có một số ít người trong chúng ta ngộ nhận và cũng hy vọng đất nước sẽ phát triển hơn nếu Việt Nam thực hiện đa đảng! Điều chắc chắn rằng sẽ không phải như vậy, không phải như các thế lực thù địch tô vẽ ra và như viễn cảnh hy vọng của một số người.

Điều dẫn đến sẽ là: đất nước diễn ra cảnh hỗn loạn, mất ổn định, làm đổ vỡ nền kinh tế, rơi vào thảm họa như đã từng xảy ra ở một số nước. Thảm họa đó chắc chắn sẽ giáng cả lên đầu nhân dân, nhân dân chỉ là cái cớ cho sự tranh giành quyền lực giữa các phe phái. Rút cục, Việt Nam không còn là đất nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; Đảng Cộng sản mất vai trò lãnh đạo xã hội; mọi thành quả cách mạng của nhân dân ta bị tiêu tan. Cần nhớ lại một bài học đau xót và thấm thía về thực thi dân chủ sai nguyên tắc ở Liên Xô trong thời gian cải tổ. Những đơn thuốc “công khai hóa”, “dân chủ hóa”, “đa nguyên chính trị” đưa ra nhằm cải tổ chủ nghĩa xã hội, lại tạo “thời cơ”, điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch ráo riết hơn, quyết liệt hơn trong mưu đồ chống phá và dẫn đến làm tan rã, đổ vỡ chế độ Xô Viết.

Ở Việt Nam không thực hiện chế độ đa đảng không phải vì chúng ta bảo thủ, mất dân chủ như các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc, mà đó là yêu cầu khách quan, là vì sự ổn định và phát triển của đất nước, vì sự phát triển của nền dân chủ và hạnh phúc của nhân dân thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh…

Sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định bảo đảm sự ổn định và phát triển, tiến tới một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhằm không ngừng củng cố hoàn thiện những điều kiện bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; không ngừng chăm lo và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Trong chế độ chính trị nhất nguyên ở nước ta, quyền làm chủ của nhân dân không chỉ thể hiện trong các văn bản Hiến pháp, pháp luật, mà điều quan trọng ngày càng được thể hiện sinh động trong cuộc sống hàng ngày, trong đời sống hiện thực của quần chúng nhân dân.

Mọi công dân Việt Nam đều có quyền tham gia quản lý xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua người đại diên do mình lựa chọn. Ý thức làm chủ, ý thức trách nhiệm công dân ngày càng được đề cao. “Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân”. Nhân dân có quyền lập và tham gia các tổ chức xã hội; quyền tự do báo chí, tự do hội họp theo quy định của pháp luật.

Sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam gần 25 năm qua đã đạt được thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, chính trị – xã hội ổn định, kinh tế phát triển. Mười năm gần đây, mức sống trung bình của người dân Việt Nam đã tăng lên hơn hai lần; vấn đề xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội được coi là mục tiêu chiến lược quan trọng cả trước mắt và lâu dài. Điều quan trọng là, tuy GDP bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp, đứng ở tốp cuối trong nhóm các nước đang phát triển, thì về chỉ số phát triển con người (HDI), Việt Nam lại đứng ở mức trên trung bình trong nhóm các nước này, chứng tỏ sự phát triển xã hội và dân chủ ở Việt Nam được đặc biệt quan tâm.

Chủ tịch Ủy ban châu Âu José Manuel Barroso nhiều lần bày tỏ sự ngưỡng mộ về sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam và đã có “ấn tượng sâu sắc với thành tựu của Việt Nam trong hơn hai mươi năm qua”. Mới đây, tại London, ngày 23-24/9/2008, trong báo cáo nhan đề “Các thị trường của tương lai”, Cơ quan Thương mại và Đầu tư của Chính phủ Anh nhận định: “Việt Nam là thị trường có sức hấp dẫn nhất, đứng đầu trong 10 nước có tốc độ tăng trưởng cao trong tương lai”. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực trong công cuộc đổi mới đất nước của nhân dân ta là bằng chứng hùng hồn của sự vươn lên xây dựng “một quốc gia “phồn thịnh” với đúng nghĩa thực sự, khẳng định tính tuyệt đối và không thể phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ở nước ta, thực hiện một đảng duy nhất lãnh đạo, mọi người dân đều có thể trực tiếp hay gián tiếp (thông qua người đại diện của mình) đề đạt nguyện vọng và đóng góp ý kiến cho các cơ quan công quyền. Các kênh bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng và hoạt động có hiệu quả. “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trở thành quy chế, thiết chế dân chủ trong các tổ chức chính trị – xã hội, trong các hoạt động của xã hội; là phương châm hành động của người dân trong xây dựng hệ thống chính trị; là yêu cầu ứng xử của cán bộ trong tiếp xúc, quan hệ với dân và chăm lo đến dân. Nhân dân lao động là chủ thể mọi quyền lực; quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ luôn gắn bó chặt chẽ với nhau.

Thực tế vừa nêu chưa phải là đầy đủ, nhưng đã cho thấy tính ưu việt của chế độ một đảng ở Việt Nam; không thể vì những khó khăn, phức tạp nào đó mà xuyên tạc bản chất chế độ dân chủ của nước ta, đòi thực hiện đa đảng, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chế độ dân chủ ở nước ta là chế độ dân chủ tốt đẹp và ưu việt. Bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của nó không phải tự nhiên mà có, mà là kết quả của biết bao mồ hôi công sức và cả máu xương của nhiều thế hệ người Việt Nam chúng ta. Bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của chế độ này có được giữ gìn, nâng cao và phát huy hay không, điều đó phụ thuộc vào chính chúng ta, vào sự quyết tâm và nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Vấn đề đặt ra hiện nay đối với chúng ta không phải là lựa chọn một đảng hay đa đảng, mà là phải thực hiện tốt hơn nữa quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội. Đồng thời thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng, “Phải dành nhiều công sức tạo được sự chuyển biến rõ rệt về xây dựng Đảng, phát huy truyền thống cách mạng, bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong của Đảng; xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; đoàn kết nhất trí cao, gắn bó mật thiết với nhân dân, có phương thức lãnh đạo khoa học, có đội ngũ cán bộ đảng viên đủ phẩm chất và năng lực”, xây dựng Đảng ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng./.

(1): Tạp chí Nghiên cứu châu Âu số 7 (106), 2009, tr. 87-89 (một cơ quan của đảng cộng sản)

(2): Ban Tuyên giáo Trung ương, Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb CTQG, H.2007, tr. 53 (một cơ quan của đảng cộng sản)

Trích : http://www.baomoi.com/Vi-sao-Viet-Nam-khong-can-da-Dang/122/5573075.epi

Dân chủ tập trung được gọi là siêu việt : http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng_l%E1%BB%91i_t%E1%BA%ADp_trung_d%C3%A2n_ch%E1%BB%A7

Một bài viết ca ngợi chế độ độc tài đảng trị và “dân chủ xã hội chủ nghĩa”, chỉ tiết rằng “trên bảo dưới không nghe” mà thôi.

Dân chủ và pháp quyền xã hội chủ nghĩa 

Dân chủ và pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN ở nước ta. Điều gì đã giúp cho Nhà nước ta vượt qua tất cả những thử thách cam go, tình thế hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc” trong các cuộc chiến tranh cứu nước trước đây cũng như ở thời điểm “chuyển dời dâu bể” sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Việt Nam phải tự đứng vững và tìm lấy con đường đi tới CNXH của mình? 

Một trong những nhân tố quan trọng nhất là sự gắn bó máu thịt của toàn dân ta với Nhà nước của mình. Đó là Nhà nước do chính dân ta gây dựng nên và Nhà nước đó lại phục vụ chính dân ta. Cội nguồn mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam chính là do Đảng ta đã kế thừa và phát huy cao độ bài học “dân là gốc” đã được cha ông đúc kết từ nghìn xưa. Trước chúng ta sáu thế kỷ, Nguyễn Trãi đã từng viết:
Đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của dân, do dân, vì dân do Đảng lãnh đạo là nội dung xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng. Ảnh: Viết Thành

“Đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Giữa thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Trên bầu trời không có gì quí bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”.

Chúng ta đã xác lập cơ chế đúng đắn Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, nhưng việc vận hành cơ chế này sao cho khoa học, nhịp nhàng, thông suốt và có hiệu quả là tổng thể cả một loạt vấn đề rất hệ trọng vì nó liên quan, tác động trực tiếp đến những khía cạnh nhạy cảm, phức tạp và căn cốt nhất của thể chế, của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội. Vận mệnh của chế độ XHCN, tương lai của đất nước đòi hỏi chúng ta phải nhìn thẳng vào sự thật, vừa thấy được thành tựu để phát huy, vừa nhận diện thật rõ những bất cập, những sai lầm, thiếu sót, những trở lực để hóa giải, khắc phục với những bước đi phù hợp. Quá trình 25 năm đổi mới và 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH của Đảng cùng yêu cầu mới của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế càng cho thấy rõ cơ cấu quyền lực cũng như cơ chế vận hành bộ máy quyền lực của đất nước hiện thời đang đứng trước những đòi hỏi mới vô cùng nóng bỏng.

Nhân dân ta thực hiện quyền làm chủ đất nước thực sự của mình như thế nào? Việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN trong điều kiện Đảng độc tôn lãnh đạo ra sao?

Những câu hỏi đó từ nhiều năm nay vẫn luôn trăn trở trong tâm trí ta và giờ đây dường như chúng đã mang nội hàm lớn hơn nhiều. Điều này đã được thể hiện với một tinh thần mới và sâu sắc trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.

Báo cáo Chính trị Đại hội XI của Đảng chỉ rõ: Đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng lãnh đạo; thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế và đời sống xã hội; giải quyết đúng mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, với nhân dân, với thị trường. Báo cáo Chính trị cũng nhấn mạnh: Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Ở mọi thời đại, trong mọi giai đoạn lịch sử, bài học “dân là gốc” luôn là điều cốt tử!

Hôm nay, bài học này vẫn đang nóng bỏng tính thời sự.

Để xây dựng một xã hội dân chủ, để cho tư tưởng “dân là gốc” không phải là lời nói suông, không phải là mỹ từ chỉ có tính chất tuyên truyền thì vấn đề cốt yếu là phải xây dựng, từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Đó là một xã hội thượng tôn pháp luật, một xã hội mà không ai được phép đứng ngoài pháp luật, đứng trên pháp luật và mọi hoạt động của nhà nước đều nhằm mục đích cao nhất là vì hạnh phúc của nhân dân. Đặt con người vào vị trí trung tâm của mọi chiến lược phát triển là sự xác định dứt khoát của Đảng và Nhà nước ta. “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người; coi con người là chủ thể, nguồn nhân lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển” là quan điểm có ý nghĩa xuyên suốt trong chiến lược phát triển đất nước mà Đại hội XI của Đảng đã xác định.

Chặng đường một phần tư thế kỷ đầy thách thức và sáng tạo vừa qua là minh chứng hùng hồn rằng công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo không phải là một khẩu hiệu chính trị khô khan, mà đã trở thành cây đời ăn sâu bén rễ trong lòng người. Đổi mới đang trở thành sức mạnh lan tỏa, được nhân lên và cộng hưởng trong cộng đồng dân tộc. Khi GDP tính theo đầu người đạt 1.168 USD, nước ta đã thoát khỏi tình trạng nước nghèo có thu nhập thấp. Điều quan trọng là, trong khi vốn tích lũy của ta chưa nhiều nhưng dân ta vẫn được hưởng trái ngọt đầu mùa của công cuộc đổi mới. Quan điểm vì dân, vì chất lượng cuộc sống của các tầng lớp nhân dân được thể hiện rất rõ ràng trong mọi quyết sách. Chúng ta không chủ trương tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá. Phát triển bền vững là hướng đi không thể khác. Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là một trong những quốc gia thành công nhất trong trận chiến xóa đói giảm nghèo, giải quyết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Đó trước hết là vì Đảng ta luôn thấm nhuần tư tưởng “dân là gốc”, “khoan sức dân” làm kế lâu bền. Đó là minh chứng rõ ràng nhất của quan điểm lớn xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Mặc dù Đảng ta luôn nêu cao bài học “dân là gốc”, xác định việc xây dựng nền dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển của chế độ ta, nhưng trên thực tế, bên cạnh những thành tựu đáng tự hào thì những biểu hiện hạn chế, vi phạm quyền dân chủ của người dân không phải là cá biệt, thậm chí có những nơi rất nhức nhối. Đây đó, bài học “dân là gốc” đang trở nên mờ nhạt. Đói nghèo và nhất là bất công xã hội đang là điều u uất ở không ít nơi.

Không thể không nhận thấy rằng trong xã hội ta vẫn còn tồn tại tình trạng “mù mờ luật pháp”, người dân không biết thật sự mình có quyền gì, còn không ít người trong bộ máy công quyền thì lợi dụng sự “mù mờ luật pháp” đó của người dân cũng như những khe hở của luật pháp để tự cho mình quyền hành xử sai trái. Trong xã hội mà pháp luật có vị trí tối thượng thì công dân có quyền được biết một cách công khai, rõ ràng mình có quyền gì và phải thực hiện nghĩa vụ gì. Đặc biệt, trong Nhà nước pháp quyền XHCN, hoạt động lập pháp về quyền, nghĩa vụ công dân cần hướng tới nguyên tắc quan trọng: công dân được phép làm những gì pháp luật không cấm; còn trong quan hệ với công dân thì cơ quan Nhà nước, công chức chỉ được làm những gì pháp luật quy định.

Chúng ta đã và đang đấu tranh quyết liệt, nhưng tệ quan liêu, tham nhũng, thói đặc quyền, đặc lợi, vô trách nhiệm, vô cảm, sự tù đọng trong tư duy và trì trệ trong hành động… vẫn đang lộ diện như một nguy cơ lớn kìm hãm công cuộc đổi mới. Khi đất nước phải đương đầu với những thử thách mới, trận chiến chống tham nhũng, tiêu cực càng nóng bỏng. Đó trước hết là một cuộc đấu tranh không khoan nhượng trong nội bộ Đảng. Cuộc đấu tranh này thử thách bản lĩnh của một đảng cầm quyền. Cuộc kiến tạo lớn sẽ không thể tiến bước nếu bộ máy của ta quá cồng kềnh, đủng đỉnh, nếu chúng ta không loại bỏ được những kẻ tham ô hám lợi, những kẻ vô trách nhiệm, vô cảm trước nỗi bất hạnh và đau khổ của người dân. Kết quả của cuộc đấu tranh này sẽ củng cố, khôi phục và tăng thêm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Những năm qua, một loạt kẻ phạm tội không kể ở cấp nào đã bị đưa ra xét xử nghiêm minh trong một số vụ án lớn. Những biện pháp chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực được triển khai một cách mạnh bạo, tích cực ở một số ngành, địa phương, dù được dư luận cả nước đồng tình ủng hộ, nhưng cũng chỉ như những chồi non mới nhú cần được tiếp tục bảo vệ, cổ vũ, khích lệ mạnh mẽ hơn nữa để dần dần trở thành một hiện thực sống động và vững chắc lan rộng ra nhiều vùng miền, như ánh sáng xua tan bóng tối. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020 mà Đại hội XI thông qua đã xác định những biện pháp: Hoàn thiện thể chế, luật pháp, nâng cao phẩm chất đạo đức của đội ngũ công chức; công khai, minh bạch tài sản của cán bộ, công chức; tăng cường công tác giám sát các công việc có liên quan đến ngân sách, tài sản của Nhà nước; nâng cao hiệu lực, hiệu quả của các cơ quan chức năng, khuyến khích phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, lãng phí.

Mặt khác, để mọi quyền lực của Nhà nước đều thuộc về nhân dân thì vấn đề nhân dân giám sát hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước là rất quan trọng. Thực tiễn cho thấy, trong điều kiện Đảng Cộng sản độc tôn lãnh đạo, nếu kết hợp tốt giữa nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng với nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong hệ thống Mặt trận thì sẽ làm phong phú thêm sinh hoạt dân chủ trong xã hội, làm phong phú thêm nền dân chủ ở nước ta.

Có một thực trạng là không ít những người nắm quyền lực thường dễ rơi vào tình trạng “không muốn nghe lời ngược”. Vì thế, ngoài quy chế dân chủ ở cơ sở đang thực hiện, hiện nay việc xây dựng đề án phản biện xã hội của MTTQ là nhằm tạo ra một cơ chế hiệu lực đối với các cấp có quyền lực. Khi đã có một cơ chế phản biện rõ ràng thì MTTQ và các đoàn thể đủ điều kiện để làm thay đổi các quyết định không phù hợp, đưa ra những chứng lý có sức thuyết phục cao. Như thế cũng có nghĩa là không phải đợi khi chính sách đã đưa vào cuộc sống, thấy sai rồi mới phản biện. Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” phải bao hàm cả việc xây dựng và thực hiện cơ chế phản biện xã hội. Tư tưởng “dân là gốc” phải bắt đầu từ việc hoạch định chính sách, tiếp đến là đề ra các biện pháp thực hiện, cuối cùng là kiểm tra, giám sát quá trình và hiệu quả thực hiện. Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020 đã nêu rõ, cần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng bộ máy nhà nước và nhấn mạnh cần hoàn thiện cơ chế để nhân dân đóng góp ý kiến, phản biện xã hội và giám sát công việc của Đảng và Nhà nước.

Đồng thời, cần hết sức lưu ý một thực trạng nữa không kém phần nghiêm trọng là trong khi “mở rộng dân chủ” thì nhiều nơi lại kéo theo sự buông lỏng quản lý, coi thường kỷ cương, phép nước. Để khắc phục điều này, có thể thấy, một trong những nét nổi bật nhất trong phong cách lãnh đạo mới ngày càng rõ nét là việc chọn đúng những khâu, những việc trọng điểm, cần kíp nhất; thống nhất cao trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; rồi tổ chức thực hiện kiên quyết, dứt khoát; có kiểm tra, giám sát, uốn nắn kịp thời. Điều này được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, địa bàn mà nổi bật gần đây là tại Thủ đô. Nếu không theo phong cách đó thì Hà Nội khó lòng mà xử lý dứt điểm và triệt để các vụ việc phức tạp và bức xúc. Đồng thời lãnh đạo Hà Nội cũng tỏ rõ thái độ cầu thị, lắng nghe dư luận xã hội, cân nhắc thận trọng cách thức xử lý các vấn đề nóng, nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến đời sống của người dân.

Hoàn thiện bộ máy nhà nước, tạo chuyển biến mạnh về cải cách hành chính đã được Đại hội XI của Đảng xác định là một nhiệm vụ trọng yếu và cấp thiết, trong đó tập trung xây dựng nền hành chính nhà nước trong sạch, vững mạnh, bảo đảm quản lý thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả. Mở rộng dân chủ không thể không gắn liền với tăng cường kỷ luật, kỷ cương. Một điểm mới nổi bật là Đại hội XI của Đảng chủ trương mở rộng dân chủ, thực hiện cải cách thủ tục hành chính ngay trong quá trình xây dựng thể chế; tăng cường đối thoại giữa Nhà nước với doanh nghiệp và nhân dân.

Khi tốc độ hội nhập của đất nước ngày càng tăng lên thì toàn thể hệ thống cần được nâng cấp lên trình độ mới. Hiệu quả và năng lực cạnh tranh ngày càng phụ thuộc vào sự vận hành nhịp nhàng của từng bộ phận trong toàn bộ guồng máy: từ giáo dục, đào tạo, tổ chức đến sử dụng để đất nước có một đội ngũ cán bộ năng động, sáng tạo, có bản lĩnh và tinh thần trách nhiệm. Những “công bộc” này cần thấm nhuần tư tưởng “dân là gốc”, làm đúng theo lời dạy của Bác Hồ: Những gì có lợi cho dân thì phải gắng sức làm, những gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh.

Nhìn lại chặng đường 25 năm đổi mới và 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH – một cương lĩnh ra đời trong thời điểm thử thách hết sức hiểm nghèo – chúng ta càng thấy rõ bản lĩnh, trí tuệ, khả năng vượt khó của toàn dân tộc dưới sự chèo lái của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chưa bao giờ thế và lực của đất nước ta mạnh như ngày nay. Đó thực sự là một kỳ tích! Kỳ tích được làm nên trước hết từ bài học “dân là gốc”!

Thế nước đang lên!

Thế nước của ta là thế nước của một quốc gia nằm ở điểm hội tụ của những nền văn minh lớn, của những luồng giao lưu quan trọng, của những mối quan hệ quốc tế phức tạp và nhạy cảm nhất. Vận hội là đây, thử thách cũng là đây! Đó là thế của một dân tộc có hàng nghìn năm văn hiến, có truyền thống yêu nước nồng nàn, biết hy sinh vì nghĩa lớn, biết đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau. Đó là thế của một đất nước tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, hướng ra biển Đông mênh mông, tài nguyên phong phú, đất đai màu mỡ… Trong cái thế đó ẩn chứa những nguồn lực dồi dào, mà nguồn lực quý báu nhất, quyết định nhất là con người Việt Nam cần cù, thông minh, quả cảm, năng động, giàu lòng nhân ái.

Một xã hội thật sự dân chủ trên cơ sở một Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng là tiền đề quan trọng, là nhân tố bảo đảm để chúng ta giải phóng và phát huy những nguồn lực to lớn, sức lao động, sáng tạo sung mãn của con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân.

Hồ Quang Lợi – UVTV, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s