Chuyện Dài Hoàng Đế Hồ Chí Minh Qua Sách Báo Đảng

Standard

http://huongvebinhthuan.org/index.php?categoryid=13&p2_articleid=282

Chuyện Dài Hoàng Đế Hồ Chí Minh Qua Sách Báo Đảng
Bình : Bài viết này là của một người quá khích, pha trộn cộng sản, rồi tôn giáo …
Bởi Mường Giang
Cõi thế vốn vô thường nên con người từ xưa tới nay không ai có thể thoát được quy luật tử sinh, một điều tất yếu cho dù ai cũng đều khao khát đến sự vĩnh cửu trường tồn, để kéo dài thêm sinh mệnh như trời đất. Ðể đạt được khát vọng trường sinh bất tử, vua chúa Tàu ngày xưa đã không ngớt đi tìm linh đan thần dược, giúp họ trở thành thiên thu bât hoại. Tư Mã Thiên trong Sử Ký, có ghi lại cái chết đột ngột của Tần Thủy Hoàng khi đi tuần thú tại Sa Khâu. Lúc đó thừa tướng Lý Tư sợ có biến loạn, nên không phát tang và bày kế cho người gánh cá thối đi kềm theo xe chở xác nhà vua, để che mắt văn võ bá quan theo hộ tống. Bức tranh vân cẩu trên đầy mai mĩa và bi thảm, nói về lòng tham vô đá của con người.

1955-1975, Hồ Chí Minh làm hoàng đế nửa nước VN nên đảng mặc sức tuyên truyền, chẳng những bằng hò vè thơ truyện, mà còn đề ra sách lược đánh bóng và đưa lãnh tụ lên tận mây xanh, trong đó có những bịa đặt lịch sử địa chất liên quan tới dân tộc Việt ngay từ thời Tổ Hùng dựng nước Văn Lang. Ðây là mục đích chính của đảng CSVN, vì có chứng minh được các vua Hùng là có thật trong lịch sử Việt, thì mới tạo cơ hội cho Hồ có dịp nói “Các vua Hùng đã có công dựng nước, ‘bác’ cháu ta phải cùng nhau giữ nước“.Có như vậy, Hồ mới theo chân Lê Nin, Stalin cũng ướp xác, xây lăng như các bậc đế vương thời trước, bắt quần chúng rồng rắn xếp hàng chờ vào thi hành bổn phận “ chiêm ngưỡng một xác ướp “.

Chuyện Hồ và đảng CS lợi dụng lịch sử vào mục đích chính trị, xét cho cùng cũng đã xa xưa như trái đất nhưng điều đang nói ở đây là những mẫu chuyện có liên quan tới Hồ, đã trở thành kinh nhật tụng cho đảng và cả một hệ thống quan lại cung đình mới, đã dùng truyền thống theo một dụng ý trục lợi, đã khiến cho ai đọc tới cũng thấy xấu lây và đau xót, phần chính không phải vì miền Nam đã bị Hà Nội cưởng đoạt vào trưa ngày 30-4-1975, mà còn phải bắt buộc tiếp nhận một hình tượng ác quỷ là Hồ Chí Minh, được đảng nâng vai trở thành “vị cha già dân tộc“ và mang tên của một thành phố xinh đẹp quan trọng vào bậc nhất của nước Việt.

1- Những ngày tháng cuối cùng của Hồ Chí Minh:

Báo đảng viết: kể từ tháng 5-1967 sức khỏe của Hồ càng ngày càng sút kém, nên bộ chính trị do Lê Duẩn chủ trì, đã mở cuộc họp bí mật bàn về việc giữ xác Hồ lâu dài khi hắn về chầu tổ Mác. Có làm vậy, đảng qua Duẩn, Thọ, Ðồng.. mới tiếp tục sử dụng được sự mù quáng cuồng tín của cán binh bộ đội đang sinh bắc tử nam, giúp đảng hoàn thành sứ mệnh nghĩa vụ quốc tế. Dịp này đảng sai Lê Thanh Nghi sang Liên Xô, để điều dinh về việc dạy nghề ướp xác chết cho cán bộ y tế VN, còn Nguyễn Lương Bằng được giao nhiệm vụ trực tiếp nuôi bệnh và chăm sóc Hồ vào những ngày cuối đời. Cũng theo lời đảng nói, thì Hồ có để lại di chúc muốn hỏa táng thi hài sau khi chết nhưng đảng lại muốn ướp xác Hồ để “sống mãi trong quần, chúng ta“.

Sau thảm bại Tết Mậu Thân (1968) tại Miền Nam, Hồ tuyệt vọng đến nổi bị nhồi máu cơ tim. Tháng 5-1969 Hồ sửa lại bản di chúc viết từ năm 1965 được coi như một tài liệu tối mật, vì cho tới giờ, ngoài Hồ và đám cận thần quyền thế lúc đó chỉ có Duẩn, Tho.. chưa ai biết được Hồ muốn gì, thì làm sao khẳng định là “bác“ thích hỏa táng để biệt tích, đối với một kẻ đầy tham vọng và hám danh như Nguyễn Tất Thành.

Cuối cùng, lúc 9 giờ 47‘ ngày 2-9-1969, Hồ về nước Thiên Ðường Xã Nghĩa gặp lại tổ Lê Mác. Nhưng ngay từ tháng 5-1969, dù Hồ còn sống nhăn răng nhưng đảng đã chuẩn bị sẳn mọi nghi lễ đặc biệt dành cho đám táng, trong đó có phần âm nhạc suy tôn công đức cứu nước của “bác“. Quang Hải, một nghiên cứu sinh âm nhạc, vừa tốt nghiệp ở Liên Xô về, được Nguyễn Xuân Khoát và Ðổ Nhuận là lãnh đạo Hội Nhạc Sĩ Miền Bắc lúc đó, giao cho công tác soạn thảo các bài hát cũng như phần hòa âm, để phổ biến trên các đài phát thanh trong và ngoài nước phần âm nhạc sử dụng nơi quàng xác Hồ và phần truy điệu tại quảng trường Ba Ðình. Vào hạ tuần tháng 8-1969, đảng ra lệnh tập trung tất cả các đơn vị văn công lúc đó như Ban ca nhạc của đài phát thanh Hà Nội, các nam nữ nghệ sĩ tại Nhà Hát Giao Hưởng, hợp xướng, nhạc vũ kịch miền Bắc, nhà hát ca múa, đoàn ca múa Tổng Cục Chính Trị.. tất cả hơn 300 người. Tất cả làm việc ngày đêm dưới quyền điều khiển của Quang Hải, Trần Quý, Ðổ Dũng, Cao Việt Bách.. để sáng tạo những ca khúc theo toa đặt hàng của đảng, với yêu cầu chỉ tiêu phải viết sao cho thật bi thương cùng tận. Có như vậy, đảng qua đám tang của Hồ, mới tiếp tục “chiêu hồn“ những cán binh đang “sinh bắc tử nam“ ở bên kia vĩ tuyến.

2- Ðem Xác Hồ Chi Minh Lên Biên Giới Hoa Việt (1969-1975):

Tại Miền Nam VN, ngày 4-9-1967, liên danh Thiệu-Kỳ đắc cử tổng thống VNCH, chấm dứt những xáo trộn chính trị liên tục từ 1964-1967. Nhờ vậy mà QLVNCH đã lấy lại tinh thần chiến đấu, chẳng những đã bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ, trước sự gia tăng xâm lược của Cộng Sản Bắc Việt, mà còn đứng vững trước sự tấn công lén của Hà Nội vào dịp hưu chiến Tết Mậu Thân (1968). Trong cuộc tổng công kích này, Bắc Việt tung hơn 184.000 cán binh, đồng loạt tấn công vào 36 tỉnh, 64 quận, 50 xã và 5 thành phố lớn, trong đó có thủ đô Sài Gòn của VNCH. Nhưng chúng đã chuốc lấy thảm bại nặng nề về nhân mạng, với số thương vong của hai lần tổng công kích lên tới 111.036 người.

Bắt đầu ngày 29-5-1966, Tổng thống Johnson ra lệnh oanh tạc trở lại lảnh thổ miền Bắc. Theo thống kê của cả hai phía (Mỹ và Bắc Việt) , trong khoảng thời gian từ 1965-1968, Hoa Kỳ đã oanh tạc khắp lảnh thổ Bắc Việt . Ngày 13-2-1967 tổng thống Johnson tuyên bố Mỹ chỉ ngưng oanh tạc khi nào quân Bắc Việt hết xâm nhập vào Nam VN. Từ tháng 2-1967 tới 5-1967 Mỹ leo thang các cuộc oanh tạc tại Hà Nội, Hải Phòng, Sơn Tây, Thái Nguyên . Cuộc oanh tạc Miền Bắc tạm ngưng từ ngày 29-9-1967 khi Bắc Việt chấp nhận hòa đàm với Mỹ tại Ba Lê.

Ðó là lý do khiến Bắc Bộ Phủ phải đem thi hài của Hồ lên quàng tại một địa điểm vô cùng bí mật ở gần biên giới Hoa Việt. Ðọc báo đảng mới phổ biến gần đây, cho biết từ tháng 9-1967 sức khỏe của Hồ dần mòn giảm sút, thậm chí còn bị liệt nửa thân sau khi từ Thái Bình về. Do đó Lê Ðức Thọ, đã chỉ thị cho các bác sĩ VC lúc đó như Nguyễn Gia Quyền, Lê Ngọc Mẫn, Lê Ðiều sang Liên Xô để học phương pháp ướp và bảo trì xác chết. Ba người đáp xe hỏa từ Ga Ðồng Ðăng (Lạng Sơn VN), sang Bắc Kinh và tới Mạc Tư Khoa ngày 14-9-1967. Tuy nhiên Liên Xô chỉ dạy cho các bác sỹ trên phương pháp ướp giữ thi hài người chết từ 15-20 ngày đầu mà thôi. Tất cả còn lại đều do người Nga đãm trách, từ ấy cho tới bây giờ không có gì thay đổi.

Tháng 6-1968, Quân Ủy Trung Ương VC phối hơp các cục Quân Y và Công Binh, lập một phòng ướp xác dành cho Hồ tại Quân Y Viện 108, đồng thời các kỷ sư Liên Xô cũng đang thực hiện đồ án thiết kế Lăng Hồ tại Quảng trường Ba Ðình (Hà Nội). Phòng ướp và giữ xác Hồ mang bí danh 75A, được Trung đoàn 259 Công Binh Bắc Việt thực hiện xong vào cuối năm 1968. Tháng 3-1969, Vương Quốc Mỹ lại được lệnh đảng sang Liên Xô học nghề xây lăng mộ LêNin, đồng thời Công Binh thuộc công trình 75 B cũng gấp rút làm một chiếc hòm kính đặc biệt, dày, trong suốt và không gợn sóng.

Câu chuyện khôi hài cười ra nước mắt, là chẳng những phải làm hòm để chứa xác Hồ, mà còn phải bảo toàn “ đôi dép râu của bác “, vì vậy công binh lại phải làm thêm một hòm kính nhỏ. Chưa hết , đảng còn bắt 150 bộ đội thuộc Lử Ðoàn 144 ngày đêm chỉ lo chuyện tập dượt các nghi thức chào kính, rập khuông theo lính Nga trong Ðiện Cẩm Linh, để chuần bị tang lễ cho Hồ. Riêng đội quân Tô Bia gồm 16 cán binh, hằng ngày tập luyện các động tác khiêng linh cữu, bằng một hòm gổ Ngọc Am nặng trên 200 ký, thêm hai tạ gạo bên trong. Ngoài ra còn có các bộ phận khác canh giữ khu vực 75 A, toán hộ tống xác Hồ từ Phủ Chủ Tịch tới Quảng trường Ba Ðình.. Tóm lại đọc báo VC và xem phim Tàu, nếu đem so sánh thì đám táng của Tần Thỉ Hòang ngày trước còn thua xa tang lễ của Hồ Chí Minh.
Ngày 2-9-1969, Hồ Chí Minh qua đời trong căn phòng nằm sâu dưới lòng đất, trong khi dó đoàn chuyên gia y tế của Liên Xô đã tới Hà Nội vào cuối tháng 8-1969, nên đã kịp thời bảo quản xác Hồ qua giai đoạn đầu, từ tóc râu mặt mũi cho tới hai tai chuột, không cho biến dạng., qua các hóa chất, thuốc sát trùng cực mạnh và tia quang tuyến màu tím. Sau cùng vào lúc 8 giờ tối đêm 5-9-1969 , xác Hồ được đưa từ Quân y viện 108 ra Hội trường Ba Ðình với sự hiện diện của Ðồng, Duẩn và văn vỏ bá quan đất Bắc.

Cuối năm 1969 Nixon sau khi đắc cử tổng thống Mỹ, đã leo thang chiến tranh VN . Lo sợ Hà Nội bi oanh tạc làm hủy hoại xác ướp của Hồ đang quàng tại công trình 75A. Do đó Ðảng quyết định di chuyển quan tài Hồ lên dấu tại một địa điểm vô cùng bí mật có ám số là K9, nằm trên một ngọn đồi thông ở một tỉnh thượng du gần biên giới Hoa Việt. Dù tới bây giờ, đảng vẫn không cho biết chính xác địa điểm nhưng qua sự mô tả trong các bài viết, có thể đoán , đó là Bắc Kạn, nơi có Hồ Ba Bể nổi tiếng. Ðây cũng chính là nơi nghĩ mát của cán bộ cao cấp đảng , được Tổng Cục Hậu Cần xây cất từ năm 1960. Trong khu vực còn có một ngôi nhà sàn là nơi hội họp của Hồ và Bộ Chính trị, cùng với một hệ thống phòng thủ vô cùng kiên cố . Ngoài ngôi nhà kính trên mặt đất là chổ quàng xác Hồ, Ðảng còn làm thêm một căn phòng chứa xác khác, cũng đầy đủ tiện nghi dành cho xác ướp, nằm sâu trong lòng núi đá, đề phòng tránh Mỹ có oanh tạc. Một hệ thống đường ray trong đường hầm, để chuyển vận hòm kính đựng xác Hồ lên xuống khi cần. Tất cả các công trình được hoàn thành vào ngày 15-12-1969. Lại để giữ bí mật tuyệt đối, đảng cho đổi K9 thành K84 và bí số này được giữ nguyên cho tới khi xác ươp Hồ được di chuyển về Lăng Ba Ðình Hà Nội.

Giai đọan chót là việc di chuyển xác Hồ từ Hà Nội lên K84 bằng đường bộ. Một chiếc xe vận tải lớn hiệu Zin 137 loại 3 cầu của Nga, được thiết kế như một phòng lạnh trong bệnh viện, dùng để chở chiếc hòm kính chứa xác ướp Hồ. Lữ đoàn 144 Công binh nhận trách nhiệm sửa sang đường xá cầu cống và xóa sạch những dấu vết khi đoàn quân chở xác đã đi qua, trên đoạn đường từ Hà Nội tới K84. Qua sự hướng dẫn của các cố vấn Nga, cơ xưởng Công binh 49 lại phải làm thêm hai chiếc hòm kính nữa, một dành đựng xác Hồ khi di chuyển, một chứa nước hóa chất đặc biệt để rửa thi thể Hồ. Ðể giữ cho thân xác “ bác “ không bị xóc khi di chuyển , Ðảng lại bắt những người phụ trách lái chiếc Zin 157 phải thực tập ròng rã trong đêm tối, đi về trên đoan đường sắp sử dụng, qua sự quan sát theo dõi của các đơn vị trưởng suốt ba tháng dài cực nhọc nhưng đâu có ai dám hé miệng, vì nếu có lời nào tới tai đảng, không chết thì cũng bị đưa vào Nam, thì còn khổ và nguy hiểm gấp trăm lần. Người đắm mình ngoài sương tuyết mưa lạnh thì đói  khổ là cái chắc nhưng những người phục vụ ở hậu phương tại 75A cũng đâu có hơn gì, vì họ cũng phải luyện tập đêm ngày về các động tác khiêng hòm xác ướp lên xuống xe, bể thủy tinh, các bình đựng hóa chất .

Ngày 20-12-1969 Quân ủy VC họp bàn và quyết định việc di chuyển xác Hồ tới K84 để tránh Mỹ oanh tạc. Sáng ngày 22-12-1969 các chuyên viên Nga và tổ y tế đặc biệt, chở bể thủy tinh đựng hóa chất lên K84 trước, để chuẩn bị. Lử đoàn 144 rải quân, phối họp với cảnh vệ và công an địa phương giữ an ninh lộ trình . Lúc 23 giờ đêm 23-12-1969, toàn bộ Bắc Bộ Phủ và các cán lớn của Mặt trận GPMN lạy chào giả từ xác ướp. Cũng từ đó, đoàn xe chở xác chính thức xuất phát. Trong xe chở linh cửu, ngoài hòm kính đựng xác, còn chất đầy những cây nước đá bao quanh hòm để giữ độ lạnh. Nguyễn Gia Quyền và một chuyên gia Nga là Igo, ngồi canh xác Hồ theo dõi ứng trực. Chỉ huy cuộc hành quân chở xác là Kinh Chi, xe chạy suốt đêm tới sáng sớm ngày 24-12-1969 thì tới địa điểm ấn định. Ngày 23-5-1970 một phái đoàn chuyên gia của Viện thi hài Lênin tới Hà Nội để khám xác của Hồ qua 8 tháng ướp. Sau tháng 5-1975, Miền Nam VN bị sụp đổ cũng là lúc Lăng Hồ ở Ba Ðình được Nga giúp xây dựng hoàn thành, nên đảng lại chuyển “ xác ướp bác “ về Hà Nội để ngày ngày triển lãm cho thiên hạ khen chê, dị nghị.

3- Từ Chuyện Lăng Ba Đình Tới Đền Thờ Hồ Chí Minh :

Tục ngữ ta có câu “sống về mồ về mã, không ai sống về cả bát cơm“ như một căn bản về ý thức của chủ nghĩa dân tộc Việt. Bởi vậy gần suốt giòng sông lịch sử, người Việt đã đấu tranh không ngừng, đó chẳng phải vì chỉ lo cho chuyện cơm áo cá nhân, mà điều quan trọng hơn hết là bảo vệ mồ mã của tổ tiên ông bà. Nhiều người Việt thường hiểu sai lầm do ảnh hưởng khoa phong thủy đất cát, nên tưởng mồ mã ở đây có ý nghĩa đơn thuần là ba thước đất vùi chôn một xác thân đã lìa đời. Nói một cách tổng quát, tổ tiên ta ngày xưa khi dùng chữ “mồ mã“ là để nói tới “anh linh của tiên tổ“ nòi giống Việt. Bởi vậy những kẻ tồi bại và đáng bị khinh bỉ nhất ở trên đời, chính là những tên Việt Gian  “Rước Voi Về Dầy Mã Tổ“,  qua lịch sử Việt ta thấy có Trần Thiểm Bình, Lê Chiêu Thống, Hồ Chí Minh và Ðảng CSVN suốt tám mươi lăm năm qua.

Trong cuộc đấu tranh để sinh tồn, chống lại sự thống trị và dồng hóa của người Tàu phương bắc, qua bao chục thế kỷ đã tạo cho dân tộc Việt một ý chí quật cường bất khuất, gần như một thứ tôn giáo nói về chủ nghĩa anh hùng của nòi giống Lạc Hồng. Cho nên ở đâu, cũng thấy người ta thờ cúng giống nhau : Ðức Phật, Thần Ðất và Các Vị Nam Nữ Anh hùng Dân Tộc . Tất cả đều xứng đáng để hậu thế ngưỡng vọng, tôn sùng và noi gương, vì ai cũng đều có công giúp nước, giúp dân, qua suốt một chuỗi dài lịch sử trên hai mươi thế kỷ chống giặc Tàu xâm lược.

Từ ngày xuất hiện tới nay, Hồ Chí Minh tự coi mình như vua chúa nên đã cuồng điệu hình thành một bước thang giai cấp trong chốn cung đình dưới triều Hồ. Ðể tạo ra một thứ ma lực trấn áp hồn phách dân chúng, hầu duy trì vững chắc chế độ, nên đảng đã đề ra nhiều điều cấm kỵ đối với Hồ cho tới lúc chết, dù chỉ còn là một xác ướp bất động nằm trong hòm kính. Sự kiện đảng ngày nay xuất công khố để cấp cho các địa phương xây dựng nhiều đình chùa thờ Cốt Hồ, đặt ngồi ngang hàng với Phật và Quốc Tổ, chẳng qua cũng chỉ muốn mượn sức mạnh của thần linh, để dọa dẵm, uy hiếp những người dân thường , khiến cho họ phải phục tùng và tiếp tục phục vụ cho đảng. Ðiều này cho thấy sự tham tàn bạo ngược có một không hai của Việt Cộng, khi chúng đã thâu tóm trọn vẹn chủ quyền của đất nước trong tay, nay còn ham hố tìm đủ mọi cách sang đoạt luôn thần quyền trong mọi tín ngưỡng, bằng cách gây xáo trộn khắp các tôn giáo đang hiện hữu trong nước.

Tóm lại theo dõi chuyện dài của Hồ Chí Minh và giới lãnh đạo CSVN, khiến cho ai cũng cảm thấy xiêu hồn bạt vía về những hành động tàn độc, gian hùng, tán tận lương tâm đối với cả dân tộc, người sống lẫn kẻ chết, làm cho ho xiêu mồ lạc nấm, nát cửa tan nhà, hủy hoại cả một nền văn hóa truyền thống và cương thường của nòi giống Lạc Hồng. Lúc sống thì buôn dân ban nước, làm di hại tới nhiều thế hệ của đất nước. Lúc chết lại hóa thân thành Hồ Ly Tinh từ xác ướp trong hòm kính nằm giữa lăng Ba Ðình, trù ếm và phá hỏng cả dòng sinh mệnh dân tộc phải tuột dốc xuống tận địa ngục đói nghèo lạc hậu, mà ai cũng đã hứng nhận suốt mấy chục năm qua.

Từ trước tới nay, Hà Nội có nhiều nghĩa trang lớn và thêm 100 bãi tha ma nhỏ khác, nằm rải rác khắp nơi trong thành phố và các vùng ngoại ô như nghĩa trang cạnh công viên Thủ Lê, hai cái khác ở thị trấn Nghĩa Tân và đường Minh Khai. Năm 1954 Ðảng vào Hà Nội và đã giải tỏa tất cả các nghĩa trang cũ, di chuyển ra tận các vùng ngoại ô xa xôi. Các khu Thủ Lê, Nghĩa Tân và Minh Khai trở thành công viên hay khu phố. Hiện Hà Nội chỉ còn duy nhất nghĩa trang Mai Dịch nằm trong nội thành, dành riêng cho các cán bộ và quan chức cao cấp đảng có quyền thế. Ngoài ra có một nghĩa trang lớn ở phía nam là Vân Ðiển, cùng hai nghĩa trang mới tân lập là Thanh Tước (Mê Linh-Phúc Yên) và Ba Vì (Bất Bạt-Sơn Tây).

Cũng theo Bùi Tín, thì các cán bộ có quyền thế tại Bắc Bộ Phủ, đã tranh dành nhau quyết liệt, để khi về chầu tổ Mác-Lê, được vào nằm ở Mai Dịch. Cũng vì vậy nhiều cán cao cuối đời bị thất sủng mất chức, đã phải chịu chôn chung với dân thường ở Vân Ðiển. Ðó là thân phận của các tướng VC Chu văn Tấn, Ðặng kim Quang, Trần Tử Bình.. Kể cả những nhà khoa bảng, nhà văn nổi tiếng của Bắc Hà như Phan Khôi, Ðào Duy Anh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Hồng, Nguyễn Tuân, Lưu Quang Vũ, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Gia Trí.. cúc cung tận tụy cho đảng, cuối cùng cũng bị đi Văn Ðiển.

Theo nhiều người cho biết, thì khu nghĩa trang này, cũng chẳng có gì quý báu và trang trọng, ngoài việc được nằm giữa các cơ quan nhà nước như Cư xá Ðoàn Văn Công, Trường Ðại Học Sư Phạm và Thương Nghiệp. Chính vậy, nên các ngày nghĩ và đêm khuya thanh vắng, trai gái thường rủ nhau từng cặp, ra đó vừa giải quyết bầu tâm sự cũng như những ẩn ức tình cảm. Theo tin mới dây, người Hà Nội vì căm ghét tên Lê Ðức Thọ, cặp bịp bài trùng với Kissinger, trong cái gọi là hiệp định ngưng bắn Ba Lê 1973, nên rủ nhau vào phóng uế trên lăng của y trong Mai Dịch. Vì không làm gì được ai, cuối cùng thân nhân tên đại ác phải tức tốc bốc mộ Thọ, đem về quê tại Nam Ðịnh chôn, để tránh sự xấu hổ và miệng đời bôi bác hằng ngày.

Không biết Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng.. sau khi qua đời, có được Ðảng xây lăng đắp tẩm hay không nhưng trước mắt ngoài lăng Ba Ðình vĩ đại của Hồ Chí Minh, còn có khu lưu niệm to lớn của Tôn Ðức Thắng, được xây dựng trên một khu đất rộng trên 6 ha thuộc cù lao ông Hổ, tỉnh An Giang. Chi riêng đền thờ “bác Tôn“ đã chiếm một diện tích rộng 110 m2, mái cong, trên nóc có trang trí rồng cọp đang tranh châu, tượng trưng cho các địa danh trong vùng như Rạch Hàm Rồng, cù lao ông Hổ là sinh quán của Tôn Ðức Thắng. Có 19 bậc tam cấp dẫn đền thờ. Tượng đồng của Thắng nói là do hãng Ba Son đúc. Ngoài ra còn có Nhà trưng bày di tích lịch sử, lưu lại những vặt vãnh của một tay tứ chiếng giang hồ, xuất thân là anh chị trong làng dao búa, nên cũng được đảng phong chức “ bác như  bác Hồ “ sống mãi trong quần, chúng ta.

+ Lăng Ba Ðình: Ðược cóp theo đúng nguyên bản lăng tổ Lênin ở Mạc Tư Khoa, có chiều cao 21,6 m gồm 3 lớp, nằm trên một phần đất của chùa Diên Hựu, tức chùa Một Cột là một trong những di tích nổi tiếng nhất của Thăng Long như Hồ Gươm, Tháp Bút, Cột Cờ Thủ Ngữ, Khuê Văn Các, Quốc Tử Giám.. vì ngôi chùa đã hơn 1000 năm tuổi. Chùa được xây dựng vào đời vua Lý Thái Tôn (1028-1054) ứng theo điều mộng, nên đã kiến tạo ngôi Phật Tự có hình dạng một đóa hoa sen, đặt trên một cột đá đứng giữa hồ sen Linh Chiểu, để phụng thờ Ðức Quan Thế Âm Bồ Tát, chuyên cưú nhân độ thế, rất phù họp với triều đại và các vị thánh quân đời Lý .Ngôi chùa được trùng tu cũng như xây cất thêm các cơ sở , đúc chuông, dựng tháp và đặc biệt là nơi tổ chức Ðại Lễ Phật Ðản hằng năm vào ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch, suốt triều Lý.

Hiện Chùa Một Cột Hà Nội chỉ còn là huyền thoại trong những trang cổ sử, từ khi giặc Pháp lẫn Cộng Sản VN nắm quyền làm chủ đất nước. Cả hai đế quốc đâu có khác gì bọn Hồi Giáo cực đoan Taliban khi chiếm được A Phú Hản vào năm 1998, đã ra lệnh tàn phá hết mọi di tích và tượng Phật bằng đá trong thung lũng Bamiyan. Pháp thì chiếm đất chùa để lập Dinh Toàn Quyền Ðông Dương, sau năm 1955 cơ sở này biến thành quảng trường Ba Ðình. Từ năm 1967, Nga giúp xây Lăng Hồ trên nền cũ của lễ đài, mặt trước hướng về phía đông, coi như che khuất hoàn toàn ngôi cổ tự nằm phía sau lăng, vì chiều cao toàn thể ngôi chùa chỉ có 2,20m.

Theo các nhà phong thủy, thì chính cái nhà mồ vĩ đại của Hồ là đầu giây mối nhợ gây nên sự ô nhiểm sinh khí của vận mệnh dân tộc, vì phát xuất từ một tử thi dù là xác ướp nhưng bị đặt trong hòm kính vô sinh, lâu ngày bí hơi nên đã xì ra ngoài mùi xú uế, khiến cho mặt mũi của “bác“ đổi dạng, đảng phải đóng cửa mồ nhờ chuyên viên Nga sang giúp. Ðó là chưa nói tới chuyện hàng năm phải tiêu phí không biết bao nhiêu công khố, để bảo trì, ngâm tẩm trong bồn hóa chất định kỳ thời gian 6 tháng. Phung phí tiền bạc hằng tỉ tỉ đồng, suốt thời gian từ tháng 9-1969 tới nay (2011) với mục đích chỉ để “ bác còn sống mãi “ để  người cả nước nguyền rũa hận thù.

Từ đầu năm 1975, sau khi chiếm được Phước Long và biết chắc Hoa Kỳ đã bỏ rơi VNCH, nên CS Bắc Việt một mặt dồn hết khả năng quân sự để cưởng đoạt Miền Nam, mặt khác lo thủ tục đem xác ướp “ bác “ về lăng Ba Ðình. Tại K84, đảng ra lệnh cho đoàn 69 là lực lượng chính bảo vệ xác Hồ từ cuối tháng 12-69 phải hoàn tất việc tập luyện công tác di chuyển ‘ xác ướp Hồ ‘ về lại Hà Nội. Song song, có 150 cán binh thuộc Lữ đoàn 144 lên tận đồi núi tỉnh Vĩnh Phú, dựng một lăng giả theo đúng nhà mồ Ba Ðình để thực tập các động tác liên quan tới việc phục vụ xác Hồ trong tương lai.

Bắt đầu ngày 26-5-1975, Ðoàn 69 được lệnh tu bổ lại đường xá cầu cống từ căn cứ K84 về Hà Nội. Ngày 15-7-1975 Phạm Ngọc Mậu, Phùng Thế Tài, Kinh Chi đại diện đảng, lên tận chổ để kiểm tra đôn đốc mọi công tác. Ngày 17-7 một số cán bộ quân y, chuyên chở các dụng cụ ướp xác về thủ đô trước. Sau đó lúc 16 giờ chiều ngày 18-7-1975, xác ướp của Hồ Chí Minh nằm trong hòm kính, được di chuyển về lăng Ba Ðình bằng chiếc xe tải lớn của Nga chế hiệu Pap. Sau rốt Ðảng chính thức khánh thành ngôi nhà mồ vĩ đại, được xây dựng ngay trung tâm thủ đô ngàn năm văn vật của dân tộc Hồng Lạc vào ngày 29-8-1975, vừa là nhà tù cùm xích vĩnh viễn xác thân của đại ma đầu Hồ tặc, cũng là tử huyệt, dùng để trù ếm phá thối tất cả mọi nguồn sinh khí của đất nước, đã khiến cho VN từ ngày ấy tới nay (2011), từ một quốc gia oai hùng văn hiến rạng rở trong cõi Ðông Nam Á Châu, trở thành một xứ sở nghèo hèn mạt rệp, suy đồi phong hóa, giáo dục, đến nổi người dân phải bỏ quê hương đi tứ xứ tha phương cầu thực, ai mà không biết, ai mà không từng là nạn nhân trầm thống hận hờn, ngoại trừ đảng CSVN và các thành phần Việt Gian phù trợ .

Ðây là một sự báo ứng ghê gớm trong thời đại chúng ta, nên Trời Phật mươn tay Ðảng, hành hạ trừng phạt một tên đại gian hùng, buôn dân bán nước cho ngoại bang để thỏa mãn dục vọng cá nhân. Ðó là việc Ðảng đem xác ướp Hồ làm món hàng câu khách du lịch và những kẻ hiếu kỳ, đồng thời dựa vào đó như một tấm bình phong để bảo tồn quyền lực của chủ nghĩa xã hội. Nên kể từ đó Hổ đâu có khác gì một tội nhân thiên cổ, thay vì bị quỷ sứ chốn âm ty cưa chân cắt lưởi bỏ vào nấu trong chảo dầu sôi như bà Thanh Ðề xưa ‘ buôn Phât hại tăng ‘.Theo truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt (trừ duới chế độ CS) , thì chết là an giấc nghìn thu, nên mồ mã phải được yên ổn thì con cháu đời sau mới phát tài hạnh phúc. Từ khi VN bị VC đô hộ, cả nước bị động mồ mã, nên luôn luôn gặp tai họa triền miên, thiên tai bảo lụt, động đất cúm gà, chưa kể tới những thảm họa chiến tranh giữa VC, Miên Cộng và Trung Cộng từ 1975-1990, làm cho hàng triệu đồng bào và thanh niên nam nữ cả nước phải chết tức tưởi.

Ðó cũng là lý do mà các vua chúa ngày xưa của Tàu lẫn VN, đều chọn những chốn thâm sơn cùng cốc để được yên mồ. Hồ Chí Minh thì khác đời, thi hài chẳng những không được chôn cất hay hỏa táng, trái lại để nằm trong hòm kính trên mặt đất, hằng ngày được máy trục lên đẩy xuống cho người điểm mặt. Ngoài ra theo định kỳ, mỗi năm xác Hồ lại phải chở tới Nga Sô để ngâm trong bồn hóa chất, vào khoảng tháng 11-12. Riêng lăng Ba Ðình, theo nhận xét chung của mọi người, thì đâu có khác gì một sà lim vĩ đại với cửa nhỏ ra vào, có lính gác ngày đêm trong ngoài cẩn mật, đâu có khác gì các lò thiêu xác dân Do Thái thời đệ nhị thế chiến của Ðức quốc xã ?

Cường điệu tới mức trời hờn người kinh còn thấy chưa đủ yếu tố, để cho ‘ bác ‘ thành ‘ thần tượng ‘ , nên VC lại xuất công khố bắt các địa phương xây chùa lập đình tạc tượng thờ ‘ bác ‘ như là Phật Thánh, bên cạnh Vua Hùng và Ðức Phật. Nhưng trò chơi quý tộc này tồn tại được bao lâu nữa, trong khi cả nước đang sôi sục đứng lên để bứt xiềng xích nô lệ và tiêu diệt chế độ phi nhân phi thú của CSVN. Lịch sử vẫn còn lưu lại hằng ngàn trang nói về cái thói đời đua đòi khoe mẽ rởm rác của nhân loại.

Nhưng cõi đời là một cuộc biển dâu, nên đâu có ai biết được ngày mai sẽ ra sao, bởi vậy nhìn cái gương của các vị hoàng đế Tàu ngày trước, chỉ vì muốn làm cho mình bất tử, nên đã lảng phí công khố để xây lăng tạc tượng. Ðâu có ai ngờ chính chuyện làm lãng xẹt đó, mà ngày nay số phận của họ bị trôi nổi hà phương, vì trò cướp mộ để đoạt báu vật, qua hình thức hoa mỹ là ‘khảo cổ‘. Tính đến nay, khu vực lăng mộ của 72 vị vua các đời Hán, Ðường, Tống kể cả lăng mộ của Tần Thủy Hoàng, ở Cam Túc, Thiểm Tây, Hà Bắc.. đều bị Trung Cộng đào xới tan hoang để tìm kho báu vật dưới lòng đất. Cùng chung số phận, là lăng mộ của các hoàng đế triều Minh, Mãn Thanh ở vùng đông bắc Trung Hoa. Xui xẽo nhất là lăng mộ của 17 vị hoàng đế Tây Tạng, được chôn rãi rác từ cực tây Tứ Xuyên tới Lhassa, cũng bị cướp mồ, khi Trung Cộng xâm lăng và đô hộ nước này từ năm 1949. Biết trước số phận của mình sẽ bị phanh thây không sớm thì muộn, nên Thành Cát Tư Hản(Mông Cổ) đã được chôn cất một nơi vô cùng bí mật, mà tới nay chẳng ai biết kể cả người Nhật hằng bao thế kỷ cố tìm mò ra vết tích nhưng đều bị thất bại. Ðó cũng là lý do Mao Trạch Ðông khi chết, xác cũng được đảng ướp nhưng lại được đem chôn giấu lặng lẽ một nơi nào đó, không hề nghe ai nhắc tới.

Chỉ có Nga Sô và CSVN thì biểu dương lực lượng : Lênin được ướp xác xây lăng và mở cửa triển lãm vào ngày 26-5-1924 nhưng vì bị động mồ nên thần tượng Lênin và đảng CS Liên Xô chỉ tồn tại từ năm 1917 tới 1990 thì diệt tuyệt. Mới đây tại Ðài Loan, đài tưởng niệm Tổng Thống Tưởng Giới Thạch cũng bị đổi tên, vì bị người Tàu kết tội làm mất lục địa. Những cuộc dâu biển trước mắt diễn ra không ngừng, như vậy ‘ bác sẽ còn sống mãi ‘ trong chiếc hòm kinh bịt bùng tại Ba Ðình được bao lâu, nói chi tới những tượng đài ngoài đường, cốt khỉ trong chùa.. những thứ mà bất cứ người VN nào cũng chờ, chính tay mình được hủy hoại như người Ðức phá bức tường ô nhục Bá Lonh, người Nga giựt đổ tượng Lênin trên đất nước họ, vào những ngày đảng CS bị tiêu diệt.

Bổng dưng thấy thấm thía vô cùng khi đọc được những câu vè dân gian do các thế trẻ Hà Nội làm sau ngày 30-4-1975, khi đất nước đã không còn chiến tranh và coi như thống nhất:

‘bác Hồ nằm ở trong lăng
nhiều năm bác bổng nghiến răng giật mình..

chiều chiều lại nhớ chiều chiều
dưới chân tượng bác, đĩ nhiều hơn dân .. ’ 

Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Tháng 5-2011
Mường Giang

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s