Suy nghĩ về điều 4 của Hiến pháp – báo Công An Nhân Dân

Standard

Suy nghĩ về điều 4 của Hiến pháp

Bình : nói tóm lại là đảng cộng sản được nhân dân yêu mến và nhân dân chọn làm lãnh đạo. Nhờ đảng nước Việt Nam mới được độc lập – tự do – hạnh phúc như ngày nay. Nhờ ơn đảng mà nhân dân Việt Nam mới “có cơm ăn áo mặt” theo di chúc của bác Hồ vĩ đại. Nhờ ơn đảng mà nhân dân Việt Nam mới có thể đánh đuổi bọn Mỹ xâm lăng và tiêu diệt bọn Ngụy Quân Ngụy Quyền dân chủ Việt Nam Cộng Hòa. Nhờ ơn đảng nhân dân Việt Nam nhất là nông dân đều có ruộng để cày bừa. Nhờ có đảng mới có được lực lượng Việt kiều đông đảo gần 4 triệu người ở nước ngoài đang ngày đêm hợp tác với đảng để xây dựng đất nước bằng cách gởi tiền về. Nói chung là nhờ ơn đảng hết. Không có đảng thì nhân dân Việt Nam không có được như ngày nay, nhưng có chỉ lẽ được như Hàn Quốc hoặc Singapore thôi. Nhân dân tin yêu nên không cần phải bỏ phiếu bầu gì cả, vì đảng biết ý của dân rồi nên không cần “trưng cầu ý kiến của nhân dân” làm gì. Mấy cái gọi là “Dân Chủ Trực Tiếp” thì sao bằng “Dân Chủ Tập Trung” của đảng? Đảng ta “dân chủ gấp trăm ngàn lần các nước dân chủ”, và đảng sẽ lãnh đạo nhân dân từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, và tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, nơi đó con người không còn ai bóc lột ai. Hãy nhìn Cuba và Bắc Triều Tiên (Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên) là biết ngay. Đó là mục tiêu tiến lên của đảng đã vạch ra cho dân tộc, và dân tộc chỉ có việc trao phó hết cho đảng, cho các đảng viên đảng cộng sản, cho các vị lãnh đạo tối cao, và nếu không phải 10 năm, 20 năm, 30 năm hay 100 năm, thì 200 năm sau chúng ta cũng sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội và đỉnh cao là chủ nghĩa cộng sản quang vinh muôn năm. Hãy tin tưởng ở đảng ta.

Trích báo Công An Nhân Dân.

Thứ bảy, 14/01/2012 08:01

Về việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, có ý kiến cho rằng, vai trò lãnh đạo của Đảng được thực hiện là từ Đảng có chủ trương đúng, ý Đảng hợp lòng dân, có cán bộ đảng viên đi trước nêu gương, không cần phải có Hiến pháp cho phép. Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, không có điều khoản quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng, nhưng Đảng vẫn lãnh đạo được nhân dân đấu tranh giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. Từ đó họ đề nghị, tới đây khi sửa đổi Hiến pháp nên xóa bỏ điều 4.

Để bàn về ý kiến này, cần tìm hiểu kỹ điều 4 trong Hiến pháp.
Trước Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 1980 ở điều 4 đã có ghi:

“Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam được vũ trang bằng học thuyết Mác Lênin là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Các tổ chức Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”.

Đến Hiến pháp năm 1992, giữ điều 4 nhưng có sửa lại: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc theo chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Như vậy Hiến pháp thừa nhận Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không phải cho phép Đảng được lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Hiểu điều 4 của Hiến pháp như là “giấy phép” cho Đảng là không đúng. “Giấy phép” cho Đảng có vai trò lãnh đạo chính là lòng tin yêu của dân. Từ khi Đảng ra đời đến nay do ý Đảng hợp lòng dân, nên Đảng đã lãnh đạo được nhân dân ta đấu tranh giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Hiến pháp không phải là “giấy phép” cho Đảng có vai trò lãnh đạo nhưng vì trong xã hội có lực lượng của nhiều tổ chức chính trị – xã hội khác nhau nên sự thừa nhận chính thức vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội trong Hiến pháp là rất cần thiết. Với sự thừa nhận đó, Đảng có trọng trách trong việc lãnh đạo xây dựng bộ máy chính quyền, trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, trong việc phát huy sức mạnh tổng hợp của dân tộc và thời đại để giành thắng lợi cho cách mạng.

Sau thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc được thực hiện theo cơ chế chung là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.

Quyền làm chủ của dân được thực hiện qua việc dân bầu ra Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của mình để quản lý toàn xã hội bằng luật pháp. Quốc hội ban hành Hiến pháp là luật gốc. Điều 4 trong Hiến pháp là chỗ dựa pháp lý để Nhà nước quản lý tổ chức và hoạt động của Đảng.

Từ khi nhân dân ta có Đảng lãnh đạo, các thế lực thù địch với cách mạng Việt Nam luôn chĩa mũi nhọn của chúng vào việc chống phá Đảng. Sự thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng như trong điều 4 của Hiến pháp là cơ sở pháp lý để trừng trị những kẻ có hành vi, đủ chứng cứ là cố tình xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ Đảng với nhân dân, kích động nhân dân chống lại Đảng hòng mưu toan lật đổ chính quyền cách mạng, thay đổi chế độ xã hội để nhân dân không còn có quyền làm chủ.

Điều 4 của Hiến pháp năm 1992 không chỉ thừa nhận Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội mà còn quy định điều kiện Đảng phải có để giữ được vai trò lãnh đạo. Điều kiện đó là Đảng phải gắn bó chặt chẽ với giai cấp công nhân, phải là đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Mọi tổ chức của Đảng phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nếu Đảng không tự xây dựng được mình theo những điều kiện đó thì Đảng không có tư cách là Đảng lãnh đạo.

Về phía nhân dân ta, để giữ cho vai trò lãnh đạo của Đảng được bền vững cũng cần có ý thức về điều kiện nêu ra ở điều 4 của Hiến pháp để giám sát việc xây dựng Đảng, buộc Đảng phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, phải tôn trọng Quốc hội, cơ quan quyền lực của Nhà nước cao nhất của dân, do dân bầu ra, không cho phép Đảng lãnh đạo trở thành Đảng trị với những đặc quyền đặc lợi.
Các đại biểu Quốc hội do dân bầu ra cũng cần dựa vào điều 4 của Hiến pháp để đấu tranh làm cho Quốc hội tiếp thu và thực hiện tốt đường lối chủ trương, chính sách đúng của Đảng; đồng thời phải tích cực đóng góp ý kiến để Quốc hội phê bình khi có dấu hiệu Đảng vi phạm các điều kiện được quy định ở điều 4 của Hiến pháp.

Đề ra được điều 4 như trong Hiến pháp năm 1992 là rất cần, rất hay nhưng không phải lúc nào cũng làm được. Hiến pháp năm 1946 không thể có quy định về sự thừa nhận Đảng lãnh đạo, vì trong tình thế đặc biệt, ngày 11-11-1945, Đảng ta đã ra tuyên bố tự giải tán để hoạt động với danh nghĩa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác. Hiến pháp 1959 cũng không thể có quy định như điều 4, vì đất nước còn bị chia cắt, Đảng bộ ở miền Nam còn phải hoạt động bí mật, chính quyền Diệm theo Mỹ đang thi hành “diệt cộng tố cộng” rất quyết liệt, dân rất sợ bị địch chụp mũ là “Việt cộng”.

Tới đây, khi sửa đổi Hiến pháp, đề nghị vẫn giữ điều 4, có bổ sung thêm quy định về việc xử lý kỷ luật của Quốc hội đối với tổ chức Đảng ở cấp Trung ương và địa phương khi có dấu hiệu vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Sau khi Hiến pháp 1992 sửa đổi, được ban hành cần sớm có luật cụ thể để thực hiện điều 4.

Trong Hiến pháp sửa đổi tới đây, nên có quy định thành lập cơ quan Thanh tra của Quốc hội và Tòa án bảo vệ Hiến pháp, đảm bảo cho Hiến pháp là luật gốc, phải được thực hiện thật nghiêm.
TRẦN TRỌNG TÂN

http://chauxuannguyen.wordpress.com/2012/03/08/c%E1%BB%99ng-s%E1%BA%A3n-vi%E1%BB%87t-nam-s%E1%BB%ADa-hi%E1%BA%BFn-phap-1992-di%E1%BB%81u-4-hi%E1%BA%BFn-phap-gi%E1%BB%AF-nguyen/

Cộng sản Việt Nam sửa Hiến Pháp 1992: điều 4 hiến pháp giữ nguyên

Trịnh Viên Phương (Danlambao) – Vừa qua, Tòa án tối cao đã tổ chức các hội nghị tại Hà Nội và Sài Gòn về tổng kết thi hành hiến pháp 1992 và đưa ra những đề xuất về sửa đổi hiến pháp mới. Tham dự các hội nghị này là những chánh án, thẩm phán và các chuyên viên cao cấp của ngành tòa án. Tổng kết các hội nghị này trên một báo cáo của Tòa án tối cao có nhiều điểm cần lưu ý.
1. Chánh án, phó chánh án TATC, các chánh án, các thẩm phán các chuyên viên cấp cao này đưa ra đề xuất: “Nhất trí với quan điểm giữ nguyên Điều 4 và khẳng vai trò và sự lãnh đạo của Đảng cộng sản trong công cuộc xây dựng đất nước, hướng tới xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”. Như vậy thì tất cả các đảng viên trong ngành tòa án “quán triệt 100%” để đảng cộng sản tiếp tục “lãnh đạo”.
Cần phải biết để được làm cán bộ của tòa án thì thư ký hay bảo vệ gác cổng tòa án bắt buộc phải là đảng viên. Đương nhiên các thẩm phán, chánh án, chuyên viên của TATC đều là đảng viên. Trong các hội ngành TATC về sửa đổi hiến pháp sẽ không có một người nào ngoài đảng yêu cầu giữ nguyên điều 4 hiến pháp 1992.
2. Lần đầu tiên các hội nghị thừa nhận rằng việc xét xử của ngành tòa án không được độc lập và khách quan: “Có ý kiến cho rằng, hoạt động của Tòa án tại nhiều nơi còn chịu sự chi phối của các cơ quan khác, dẫn đến hoạt động của Tòa án chưa độc lập. Do đó, đề nghị cần xây dựng cơ chế phân định, kiểm soát quyền lực Nhà nước, nâng cao tính chịu trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước; nâng cao vị trí, vai trò của Tòa án”.
Chính các quan tòa cầm cân nảy mực trong các vụ án thừa nhận một thực tế phũ phàng mà xưa nay ai ai cũng biết nhưng bây giờ người trong cuộc mới lên tiếng.
3. Phó chánh án TATC cũng là chánh án Tòa án Quận sự thì cho thấy một thực tế đau lòng khác:“Hiến pháp năm 1992 chưa thể hiện rõ Tòa án là cơ quan có chức năng thực hiện quyền tư pháp; chưa thể hiện chính xác đầy đủ các quan hệ phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp với cơ quan tư pháp. Chưa xác định rõ thế nào là quyền tư pháp và cơ quan tư pháp”.
Một người ở cương vị cao cấp của ngành tòa án, am hiểu pháp luật và chính trị ở Việt Nam tuyên bố thẳng thừng cơ quan tư pháp (tòa án) chưa có các quyền tư pháp. Nhưng cũng chính ông này lại mâu thuẫn đề nghị: “sửa đổi Hiến pháp 1992 là thể chế hóa kịp thời đường lối, chủ trương của Đảng về đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước của dân, do dân và vì dân, do Đảng lãnh đạo”.
Hơn ai hết các thẩm phán và chánh án biết rằng hạn chế các quyền tư pháp của tòa án là do “đảng lãnh đạo” mà cứ khăng khăng để cho đảng tiếp tục lãnh đạo. Vì đảng chính là họ và trên họ thì có những đảng viên có quyền hơn nên khi xét xử họ tuân theo lệnh của cấp trên chứ không theo luật pháp.
4. Phó chánh án Tòa án Sài Gòn ông Đỗ Khắc Tuấn thì có vẻ kín đáo hơn nên đè xuất: “sửa lại quy định tại Điều 134 Hiến pháp năm 1992 theo hướng: TANDTC là cơ quan tư pháp cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam”. Tức là thừa nhận xưa nay TANDTC chưa bao giờ là cơ quan tư pháp cao nhất. Cả trăm ngàn dân oan kéo về trụ sở TATC ở Hà Nội để khiếu nại các bản án đã xử phúc thẩm ở các tỉnh thành trong cả nước lâu nay đã đi nhầm địa chỉ để kêu oan. Vì TATC chưa là cơ quan tư pháp cao nhất.
5. Các thẩm phán đề xuất bổ nhiệm thẩm phán nên “trọn đời” chứ không có theo nhiệm kỳ như hiện nay. Vì theo các thẩm phán việc bổ nhiệm theo nhiệm kỳ cũng là nguyên nhân làm cho các bản án thiếu độc lập và khách quan. Một ví dụ họ đưa ra là: “Khi xét xử một vụ án hành chính mà một bên đương sự lại là người trong Hội đồng xét tuyển Thẩm phán thì chắc chắn vụ án không thể xem xét một cách khách quan được. Hoặc một Thẩm phán mà hủy quyết định hành chính của UBND chắc chắn khi bổ nhiệm lại thì sẽ có những khó khăn nhất định”.
Đề xuất này trong hiến pháp sửa đổi của ngành tòa án cho thấy họ cũng muốn quyền lợi của họ được nâng cao hơn thay vì nghiệp vụ hay năng lực được chú ý hơn.
6. Các thẩm phán đề xuất coi tòa án là cơ quan trung tâm hoạt động tư pháp tách hản khỏi Viện kiểm sát của là cơ quan tư pháp như hiện nay: “Chủ trương lấy Tòa án làm trung tâm, hoạt động xét xử làm trọng tâm của cải cách tư pháp”.
Nhận định điều này một luật sư ở đoàn luật sư tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu cho hay: “Vì đảng lãnh đạo, trước khi xét xử các vụ án được coi là án điểm thì luôn luôn có kỳ họp của 3 ngành: Tòa án – Viện kiểm sát – Cơ quan điều tra thì có tách hay không tách Viện kiểm sát, cơ quan điều tra khỏi các hoạt động tư pháp thì bản chất các vụ án cũng không thay đổi”.
7. Nhiều đề xuất có tính chuyên ngành như là nên tổ chức tòa án theo 4 cấp chứ không phải 3 cấp như hiện nay, rồi thì chức năng quyền hạn của Hội đồng thẩm phán… cũng cần cụ thể trong hiến pháp sửa đổi. Với các đề xuất kiểu này thì chưa thành cũng thấy rằng thời gian “sống” của hiến pháp mới cũng ngắn ngủi vì đi vào những tiểu tiết.
Khi các quan tòa với kiến thức pháp luật cao và với học vị tiến sĩ, thạc sĩ nhưng đều là đảng viên đảng cộng sản ngồi lại họp bàn chuyện sử đổi hiến pháp thì chắc chắn quyền lợi đảng của họ được đưa lên cao nhất sau đó mới đến quyền hạn chuyên ngành của họ. Như vậy thì còn lâu người dân không phải là đảng viên mới tìm thấy quyền lợi của mình trong hiến pháp do những người cộng sản tự viết ra, tự họ sửa đổi.
Cũng không có gì ngạc nhiên khi 100% đảng viên của ngành tòa án yêu cầu giữ nguyên điều 4 hiến pháp 1992.

One response »

  1. Đúng như thế rồi…..!Nhờ ơn Đảng mà tất tần tật,sạch sành sanh Nhân Dân không còn một thứ gì tồn tại!Nói như thế là có quá đáng không?Và Đáng hay không Đáng?
    Hiểu gì về cái Hiến Pháp của Nó gây ra?từ khi có Đảng…..!?Nó đục rỗng cái nền Pháp Lý ngày nay!Nó khoét sâu tận cùng tâm can mọi chúng ta trong mọi phương diện,mọi lãnh vực….Nói chung Toàn Diện!Ví như “Ngập nước bây giờ chỉ còn một điểm ngập mà thôi”:NGẬP TOÀN DIỆN(toàn thành phố) vậy…..!Đáng lắm chứ!Cho nên Triết mới “tuyên bố” rằng:Bỏ điều Là TỰ SÁT..!
    Một câu nói bình thường như bao câu nói khác nhưng hay và chí lý nhất vẫn là của Cố TT.VNCH :Đừng nghe những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm…..!
    Đó là Kim Chỉ Nam và Sao Bắc Đẩu cho chúng ta”lần mò”đi trong “Thiên đường Mù “CS mà Nhà văn DTH đã nói…..khi còn sống trong “chủ thuyết của CS”!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s