Hai bản hiến pháp 1946 và 1967 là nền tảng cho nền dân chủ tương lai của Việt Nam hiện đại!

Standard

Bản hiến pháp 1946 (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) và 1967 (Việt Nam Cộng Hòa) là hai bản hiến pháp dân chủ nhất, nhưng tiếc thay “ai đó” đã vứt bỏ chúng để hậu quả ngày hôm nay là Tổ Quốc Việt Nam không còn tồn tại, chỉ có “Tổ Quốc XHCN” với một “nhóm lợi ích” đang độc chiếm, từ cướp chính quyền, cướp của nhà giàu cho đến cướp đoạt ruộng đất của nhân dân. Vụ Tiên Lãng chỉ là một trong hàng triệu vụ khác ở Việt Nam, mà không ai dám nói ra.

Xem qua
Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967
http://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BA%BFn_ph%C3%A1p_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_1967
Lời mở đầu
“ Tin tưởng rằng lòng ái quốc, chí quật cường, truyền thống đấu tranh của dân tộc bảo đảm tương lai huy hoàng của đất nước.
Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể Cộng Hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc Lập Tự Do Dân Chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.

Chúng tôi một trăm mười bảy (117) Dân Biểu Quốc Hội Lập Hiến đại diện nhân dân Việt Nam, sau khi thảo luận, chấp thuận Bản Hiến Pháp sau đây :


Nhận xét

Hiến pháp 1967 là một sự tiến bộ so với tình hình dân chủ trong vùng lúc đó. Tuy ghi ngắn gọn, tránh dùng những từ hoa mỹ và phô trương, nhưng những quyền căn bản của người dân đều được bảo đảm và ghi rõ từng khoản trong hiến pháp. Mới nhất là cơ chế tam quyền phân lập và quyền đối lập chính trị của người dân :

Tam quyền phân lập
Nội dung bản hiến pháp này đã nêu rõ nguyên tắc tam quyền phân lập. Điều 3 Hiến pháp 1967 viết: “Ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của 3 cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa”. Theo đó, quyền lực nhà nước không còn là một thể thống nhất, tập trung tuyệt đối mà phân chia thành 3 quyền: quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp như 3 cơ chế riêng thực hiện độc lập với nhau, kiềm chế và giám sát lẫn nhau. Chế độ Cộng hòa Tổng thống được quy định rõ. Riêng quyền Tư pháp độc lập với Hành pháp, được ủy nhiệm cho Tối cao Pháp Viện và được hành xử bởi các Thẩm Phán xử án (Điều 76).

Quyền tự do căn bản
Hiến pháp 1967 quy định rõ về sự tôn trọng quyền tự do căn bản của người dân và sự bình đẳng giữa các sắc tộc, chủng tộc, tôn giáo, quan điểm chính trị (Điều 2). Đặc biệt, ngoài những quyền căn bản khác, Hiến pháp ghi rõ người dân có quyền tự do giáo dục (tuy nhiên “nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí”, Điều 10) quyền tự do cư trú, đi lại, xuất ngoại và hồi hương (Điều 14) và quyền tự do lập nghiệp đoàn và quyền đình công (Điều 16), quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh (Điều 12), tự do truyền giáo và hành đạo tín ngưỡng (Điều 9), quyền tự do lập hội (Điều 13) và đảng chính trị (chính đảng, Điều 99). Những quy định rõ ràng cũng được ghi thẳng và trực tiếp vào hiến pháp để bảo vệ người dân không bị oan: Trong trường hợp có nghi vấn phạm tội (Bị can), không bị tra tấn ép cung (“Không ai có thể bị tra tấn, đe dọa hay cưỡng bách thú tội. Sự nhận tội vì tra tấn, đe dọa hay cưỡng bách không được coi là bằng chứng buộc tội” – Điều 7) và phải xét xử công khai, bị can được cho là vô tội cho đến khi có đủ bằng chứng buộc tội và trong trường hợp có nghi vấn (bằng chứng không rõ ràng) thì bị can được có lợi hoặc tuyên vô tội (“Sự nghi vấn có lợi cho bị can”, Điều 7). Tất cả những quyền này được gọi là “quyền công dân căn bản” và không được vi phạm, dù có thay đổi luật (Điều 29).

Quyền đối lập của người dân
Người dân được toàn quyền có quan điểm chính trị khác với nhà nước : Quyền đối lập công khai (Điều 13) và Quyền đối lập chính trị (Điều 101) và hiến pháp bảo vệ sự bình đẳng giữa các đảng phái, quyền hội họp và tự do tư tưởng, tự do ngôn luận của người dân (Điều 12 và 13 và điều 99), cấm chỉ mọi hình thức kiểm duyệt, ngoại trừ các bộ môn điện ảnh và kịch trường (Điều 12). Đáng chú ý là Quân nhân không được sinh hoạt đảng phái (để giữ tính trung lập cho bộ máy quốc phòng) và nếu được đắc cử “vào các chức vụ dân cử hay tham chánh tại cấp bậc trung ương” (như quốc hội, các cấp chính quyền trung ương), phải xin giải ngũ hoặc nghỉ dài hạn (Điều 23). Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân biểu hay Nghị sĩ vì những sự phát biểu và biểu quyết tại Quốc Hội (Điều 37). Tuy nhiên, riêng đảng Cộng sản bị đặt ra ngoài vòng pháp luật và “Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ” (Điều 4).

Hiến pháp 1946

http://vi.wikipedia.org/wiki/Hi%E1%BA%BFn_ph%C3%A1p_Vi%E1%BB%87t_Nam_D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_1946

Nội dung

Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 là một bản hiến văn ngắn, bao gồm lời nói đầu và 7 chương, 70 điều.

Lời nói đầu khẳng định ba nguyên tắc cơ bản của bản Hiến pháp này:

“Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo.
“Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.
“Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân.”
Chương I quy định chính thể của Việt Nam là dân chủ cộng hòa

Chương II quy định nghĩa vụ và quyền lợi công dân, xác nhận sự bình đẳng về mọi phương diện của tất cả công dân Việt Nam trước pháp luật.

Chương III quy định về nghị viện nhân dân.

Chương IV quy định về chính phủ – cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc

Chương V quy định phương diện hành chính, bộ, tỉnh, huyện, xã; quy định về cơ quan hành chính (ủy ban hành chính và hội đồng nhân dân) các cấp.

Chương VI quy định về cơ quan tư pháp bao gồm toà án tối cao, các toà án phúc thẩm, các toà án đệ nhị cấp và sơ cấp.

Chương VII quy định về việc sửa đổi Hiến pháp, trong đó có quyền phúc quyết hiến pháp của dân.

So sánh
Quy định về việc sửa đổi Hiến pháp (Chương VII) không được kế thừa trong các bản hiến pháp sau này của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. [3]

Vai trò và quyền lực của chủ tịch nước như được quy định trong Hiến pháp 1946 rất lớn: Chủ tịch nước không chịu trách nhiệm trước Quốc hội, không thể bị khởi tố trừ tội phản quốc, có thể từ chối công bố các đạo luật do Quốc hội ban hành và yêu cầu Quốc hội thảo luận lại. Đặc điểm này gần với quy định về quyền lực của tổng thống trong Hiến pháp nước Mỹ. Trong các bản hiến văn theo mô hình Xô Viết sau này của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chủ tịch nước chỉ có chức năng nghi lễ mà ít mang tính quyền lực. [4]

Hiến pháp 1946 công nhận các quyền cơ bản của công dân như quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh, quyền khiếu nại tố cáo… Ở các bản Hiến pháp sửa đổi năm 1959 và 1980, các quyền này không được qui định rõ ràng hoặc không đầy đủ. Đến bản Hiến pháp sửa đổi năm 1992 lại có nhiều điểm tương tự Hiến pháp 1946. [5]

Điều 10 bản Hiến pháp 1946 qui định rõ ràng các quyền tự do cá nhân: “Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Đây là những quyền tự do bị hạn chế trong các bản hiến pháp sau này.

So sánh với hiến pháp của các quốc gia khác, tác giả Phạm Duy Nghĩa cho rằng nội dung Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa “không hề có bóng dáng của Hiến pháp Liên Xô 1936”, có “thái độ thượng tôn và tiếp nối truyền thống tư pháp đã có từ thời thực dân”, và chứa đựng những tư tưởng dân chủ hơn hẳn hệ thống luật pháp của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. [4]

Đánh giá
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng[6] cho rằng Hiến pháp 1946 phản ánh đúng tinh thần pháp quyền – “những nguyên tắc và phương thức tổ chức quyền lực sao cho lạm quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ của nhân dân được bảo vệ”. Điều đó thể hiện ở 5 điểm[6]:

Hiến pháp đã được đặt cao hơn nhà nước. Nghị viện nhân dân không thể tự mình sửa đổi Hiến pháp. Mọi sự sửa đổi, bổ sung đều phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70 Hiến pháp 1946).
Các quyền của người dân được Hiến pháp ghi nhận và bảo đảm thay vì được nhà nước ghi nhận và bảo đảm.
Quyền năng giữa các cơ quan nhà nước được phân chia khá rõ và nhiều cơ chế kiểm tra và giám sát lẫn nhau đã được thiết kế.
Quyền năng giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương cũng được phân chia rất rõ.
Vai trò độc lập xét xử của toà án được bảo đảm. Các cơ quan khác không có quyền can thiệp.
Ông đánh giá “Hiến pháp 1946 là bản hiến pháp dân chủ, tiến bộ không kém bất kỳ bản hiến pháp nào trên thế giới”.[3]

Giáo sư Trần Ngọc Đường, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội (năm 2006), cho rằng các điểm nổi bật của Hiến pháp 1946 là: Tư tưởng của Hồ Chí Minh về nền lập hiến Việt Nam; Tư tưởng quyền lực thuộc về nhân dân; Tư tưởng pháp quyền; Những quy định về quyền con người và đảm bảo quyền công dân; Cơ chế bảo hiến; Sửa đổi hiến pháp. Theo ông, việc nghiên cứu về “quyền phúc quyết” hiến pháp của người dân trong Điều 70 Hiến pháp 1946 rất có ý nghĩa trong hoàn cảnh xây dựng Luật trưng cầu dân ý của Việt Nam.[3]

Giáo sư Phạm Duy Nghĩa, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng Hiến pháp năm 1946 là “bản hiến văn dân chủ vào loại bậc nhất Đông Nam Châu Á lúc bấy giờ” và “đã có thể là một bản khế ước tốt để ràng buộc và khống chế công bộc với lợi ích của ông chủ nhân dân”. Ông tỏ ý tiếc rằng sáu mươi năm sau Việt Nam “đã không có cơ hội đi xa hơn trong chủ nghĩa lập hiến.” [4] Theo ông, Hiến pháp 1946 vẫn phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của Việt Nam và “vẫn còn nguyên giá trị cho một xã hội dân chủ pháp quyền ở Việt Nam”.[5]

Đây là bản hiến pháp được soạn thảo theo tinh thần “tam quyền phân lập”: lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Chính phủ) và tư pháp (Tòa án) với ảnh hưởng của Hiến pháp Hoa Kỳ, Pháp, và hiến pháp của các nước cộng hòa khác.[cần dẫn nguồn] Điều 1 của Hiến pháp 1946 ghi rõ: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa”.

Tuy nhiên những giá trị của bản Hiến pháp 1946 không được vận dụng trong thực tế mà chỉ có giá trị về mặt chính trị. Bởi vì nhiều lý do khiến cho Hiến pháp 1946 không được thực thi. Lý do chính yếu là sự cai trị độc đoán của đảng Lao Động (tên cũ của Đảng Cộng Sản) và họ muốn thủ tiêu bản hiến pháp vì nghe lời Trung Quốc và Liên Xô và họ sẵn sàng tiêu diệt các đảng phái khác để giành quyền độc tài chính trị cho họ.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s